Viêm da cơ địa

Viêm da cơ địa là một bệnh viêm da mạn tính, gặp ở mọi lứa tuổi, với triệu chứng nổi bật là ngứa nhiều làm bệnh nhân khó chịu. Bệnh thường khởi phát từ tuổi nhỏ, với những đợt tái phát và có thể kéo dài suốt đời.

 

Viêm da cơ địa được mô tả từ thế kỷ 19, với những tên gọi khác như “sẩn ngứa Besnier” hay “viêm da thần kinh rải rác”. Năm 1892, Besnier là người nhận ra sự liên quan giữa viêm da cơ địa với bệnh viêm mũi dị ứng và hen và do đó thuật ngữ “cơ địa “đã được dùng cho bệnh này.

Có 2 dạng viêm da cơ địa chính: một dạng có liên quan với IgE, còn được gọi là viêm da cơ địa ngoại sinh; một dạng không có liên quan với IgE, được gọi là viêm da cơ địa nội sinh. Tỉ lệ hiện mắc viêm da cơ địa hầu hết ở các nước có thu nhập cao và một vài nước có thu nhập thấp, khoảng 10-30% ở trẻ em và 2-10% ở người lớn. Khởi phát trong 2 năm đầu đời là dạng thường gặp nhất, 45% khởi phát trong 6 tháng đầu, 60% trong năm đầu, 85% trước 5 tuổi. Viêm da cơ địa khởi phát muộn: khởi phát sau tuổi dậy thì. Viêm da cơ địa khởi phát ở người lớn tuổi: khởi phát sau 60 tuổi, mới được phát hiện gần đây.

Bệnh biểu hiện ngứa và hay tái phát, thường khởi phát ở tuổi nhũ nhi nhưng thỉnh thoảng khởi phát đầu tiên ở người lớn. Viêm da cơ địa là bệnh gen có biến hóa phức tạp thường kết hợp với các bệnh lý “cơ địa” khác như là hen phế quản, viêm mũi dị ứng.

Viêm da cơ địa là một bệnh lý di truyền phức tạp, tương tác giữa gen-gen và gen-môi trường đều có vai trò trong sinh bệnh học của bệnh. Có 2 nhóm gen lớn được nhấn mạnh trong viêm da cơ địa đó là: (1) những gen mã hóa cho các protein ở thượng bì; và (2) những gen mã hóa cho những protein có chức năng miễn dịch.

 

Rối loạn chức năng hàng rào bảo vệ da

Triệu chứng của viêm đa cơ địa gồm có khô da, tróc vảy, là hậu quả của quá trình rối loạn chức năng hàng rào bảo về da và sự thay đổi ở lớp sừng làm tăng sự mất nước qua thượng bì.

Di truyền học

Tần suất bệnh cao hơn ở những người sinh đôi cùng trứng (77%) so với sinh đôi khác trứng (15%). Có cha hoặc mẹ bị viêm da cơ địa cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh hơn nhiều lần, và cao hơn so với những người có cha mẹ bị hen phế quản hay viêm mũi dị ứng. Đột biến gen mã hóa fillagrin, một protein giúp liên kết các sợi keratin trong quá trình biệt hóa thượng bì, là một trong những yếu tố nguy cơ lớn nhất của viêm da cơ địa. Những thay đổi trên dẫn đến hậu quả là phá vỡ tính toàn vẹn của hàng rào bảo vệ da và dễ dàng bị xâm nhập bởi các chất kích ứng, các dị ứng nguyên, các tác nhân nhiễm trùng, từ đó gia tăng tính nhạy cảm và khởi phát quá trình viêm.

 

Miễn dịch học

Bao gồm Viêm không liên quan với IgE; Sự nhạy cảm của thượng bì; và Vai trò của vi khuẩn. Staphylococcus aureus có ở trên da của >90% bệnh nhân viêm da cơ địa, do sự giảm các peptide kháng khuẩn cũng như sự tăng gắn kết của vi khuẩn với vùng da bị chàm hóa Staphylococcus aureus tham gia vào quá trình gây viêm và nhạy cảm da.

Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của viêm da cơ địa rất đa dạng, thường được chia thành 3 giai đoạn: sơ sinh, trẻ nhỏ, thiếu niên/trưởng thành. Ở mỗi giai đoạn, bệnh nhân có thể biểu hiện sang thương da dạng chàm cấp, bán cấp hoặc mạn tính. Thường bệnh nhân đều ngứa rất dữ dội và có vết cào gãi.

Giai đoạn nhũ nhi (<2 tuổi): thường khởi phát sau tháng thứ 2, vị trí thường gặp ở vùng mặt (2 má), ngoài ra còn ở da đầu, cổ, mặt duỗi chi, thân mình, nhưng thường chừa vùng tã lót. Trong 6 tháng đầu vùng mặt và cổ chiếm 90%. Để giảm triệu chứng ngứa, trẻ sơ sinh cọ xát vào giường, trẻ lớn hơn trực tiếp gãi lên vùng bị ảnh hưởng.

Giai đoạn trẻ nhỏ (2-12 tuổi): sang thương thường ít rỉ dịch hơn, có thể bị lichen hóa, khô da lan tỏa. Vị trí thường gặp ở mặt gấp (nếp khuỷu, nếp khoeo). Vùng đầu (đặc biệt vùng quanh miệng), cổ, cổ tay, bàn tay, mắt cá, bàn chân cũng thường gặp.  

Giai đoạn thiếu niên/trưởng thành (>12 tuổi): sang thương thường có dạng bán cấp hay mạn tính, lichen hóa. Vị trí ảnh hưởng cũng ở các nếp gấp. Tuy nhiên lâm sàng có nhiều thay đổi: thường có sang thương mạn tính ở bàn tay do yếu tố cả nội sinh và ngoại sinh. Một số trường hợp có sang thương trên mặt, thường ảnh hưởng mí mắt. Những vùng khác cũng có thể bị: vùng sau tai, cổ, ngực. Những bệnh nhân đã có bệnh từ nhỏ thường có bệnh cảnh lan rộng hơn thậm chí đưa đến đỏ da toàn thân và thường kháng với điều trị. Sang thương thường là những vết cào gãi hay mảng dày do thói quen cào gãi và cọ xát của bệnh nhân.

Viêm da cơ địa ở người già (>60 tuổi): biểu hiện là khô da rõ rệt. Hầu hết bệnh nhân không có sang thương dạng lichen hóa ở mặt gấp điển hình của viêm da cơ địa ở trẻ em, người trẻ.

Tiên lượng và diễn tiến lâm sàng

Mặc dù khó dự đoán tiên lượng của từng bệnh nhân, nhưng bệnh lý này thường nặng hơn và dai dẳng hơn ở trẻ nhỏ. Khi bệnh nhân càng lớn lên thì càng có nhiều giai đoạn lui bệnh hơn. Sau 5 tuổi tỉ lệ bệnh tự giới hạn là 40-60%, nhất là ở nhóm mức độ nhẹ.

Điều trị

Viêm da cơ địa là một bệnh mạn tính và hay tái phát, do đó việc điều trị trước đây chủ yếu nhắm vào các đợt bùng phát với các thuốc điều trị ngắn hạn. Với những hiểu biết mới về khiếm khuyết hàng rào bảo vệ da và quá trình viêm mạn tính của bệnh, người ta đưa ra một cách tiếp cận điều trị mới chủ động hơn. Hiện nay, điều trị và quản lý bệnh nhân viêm da cơ địa bao gồm các vấn đề sau:

  • Tránh các yếu tố như chất kích ứng, dị ứng nguyên, nhiễm trùng…
  • Chăm sóc da để bù đắp lại các khiếm khuyết về hàng rào bảo vệ da.
  • Điều trị kháng viêm để kiểm soát quá trình viêm dưới lâm sàng cũng như ngăn ngừa các đợt bùng phát.
  • Những phương pháp điều trị hỗ trợ khác (trong từng trường hợp cụ thể).

Tránh các yếu tố nguy cơ làm bùng phát bệnh

  • Dị nguyên trong không khí: mạt nhà, lông thú, phấn hoa…
  • Dị ứng nguyên từ thức ăn (chiếm 90%) như: sữa bò, trứng, đậu phộng, đậu nành, lúa mì.
  • Các chất kích ứng như: xà bông, bột giặt, chất tẩy rửa.
  • Đổ mồ hôi (nhiệt độ quá nóng/ lạnh/ thay đổi đột ngột, độ ẩm thấp).
  • Thói quen cào gãi.
  • Vải len.
  • Căng thẳng.
  • Hút thuốc lá.
  • Các tác nhân nhiễm trùng: Staphylococcus aureus, Herpes simplex…
  • Các yếu tố đặc hiệu: khi test áp da (+), cần loại bỏ các dị ứng nguyên.

Chăm sóc da

Chất dưỡng ẩm đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược điều trị. Trong cơ chế bệnh sinh của viêm da cơ địa, đã có nhiều bằng chứng khoa học chứng minh các chất dưỡng ẩm giúp cải thiện hàng rào bảo vệ da. Sử dụng chất dưỡng ẩm ngay cả khi bệnh không hoạt động.

Đặc điểm chất dưỡng ẩm:

  • Có nhiều dạng: mỡ, gel, cream, mỡ, dung dịch…
  • pH sinh lý (pH = 5,5).
  • Tránh sản phẩm chứa xà phòng có tính tẩy rửa mạnh, chất tạo mùi, chất bảo quản, lanolin, các chiết xuất từ thảo dược.
  • Chất dưỡng ẩm có chứa các thành phần giúp dưỡng ẩm da (hyaluronic axit, các ceramides, FLG…).
  • Chứa các thành phần giảm viêm, giảm ngứa.

Chọn lựa chất giữ ẩm tùy theo mức độ khô da, vùng da cần điều trị, sự chấp nhận của bệnh nhân và theo từng mùa trong năm. Khuyến cáo sử dụng chất dưỡng ẩm:

  • Sử dụng liên tục và đều đặn.
  • Việc sử dụng chất dưỡng ẩm có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát bệnh.
  • Thoa ngay sau khi tắm (trong 3 phút) hoặc khi thấy da khô và thoa nhiều lần trong ngày, nếu thoa thuốc corticoid thì thoa chất dưỡng ẩm sau khi thoa corticoid.

Cùng với sử dụng các chất dưỡng ẩm, cần tư vấn cho bệnh nhân sử dụng các sản phẩm làm sạch kèm theo không gây kích ứng, không chất tẩy rửa, không chất tạo mùi, pH trung tính, có chứa chất dưỡng ẩm.

Glucocorticoid thoa tại chỗ (TCS)

Thuốc được lựa chọn hàng đầu trong điều trị viêm da cơ địa, đặc biệt trong giai đoạn cấp tính.

Tác dụng của TCS gồm: kháng viêm, ức chế miễn dịch, co mạch, ức chế hoạt động của fibroblast.

Tùy theo tuổi, vị trí, tính chất thương tổn, đáp ứng của bệnh nhân… mà lựa chọn loại TCS mạnh hay yếu và thời gian sử dụng khác nhau.

Liều dùng: không quá 45 g/tuần loại mạnh, 100 g/tuần loại trung bình hoặc yếu.

Loại TCS cần được thoa theo vùng được tính bằng đốt ngón tay: 1 Fingertip Unit (FTU) = 0,5 g thuốc, và được dùng cho 2% diện tích thương tổn.

TCS có nhiều tác dụng phụ tại chỗ và toàn thân, nhưng nếu sử dụng đúng theo sự hướng dẫn của bác sĩ thì sẽ đạt hiệu quả cao và an toàn.

Đối với những vùng da mỏng như mặt hay các nếp gấp, trong trường hợp da bị viêm nhiều có thể dùng TCS mức độ trung bình trong 5-7 ngày rồi chuyển sang dùng TCS loại yếu hay TCI.

Thuốc ức chế calcineurin tại chỗ (TCI)

Là lựa chọn hàng thứ 2 trong viêm da cơ địa.

Có tác dụng chống viêm hiệu quả.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và bệnh nhân suy giảm miễn dịch.

Khuyến cáo sử dụng cho trẻ em khi cần điều trị dài ngày hay sử dụng thường xuyên ở những vùng nhạy cảm như mặt, nếp gấp và hậu môn sinh dục.

Sau khi điều trị giai đoạn cấp tính bằng TCS, nên sử dụng TCI trong thời gian 2-4 tuần để phòng ngừa tái phát.

Tác dụng phụ: đỏ da, nóng, ngứa, viêm nang lông, nhiễm siêu vi, nhạy cảm nóng lạnh, không dung nạp với rượu.

 

Thuốc kháng viêm uống

Chỉ nên sử dụng cho những trường hợp viêm da cơ địa nặng, tái phát thường xuyên, không đáp ứng với thuốc thoa. Vấn đề lợi ích – nguy cơ nên được xem xét cẩn thận, bệnh nhân cần được theo dõi kĩ để ngừa tác dụng phụ. Hiện nay chưa có thuốc nào ngoài Corticosteroid được FDA phê chuẩn cho điều trị viêm da cơ địa. Tuy nhiên cần lưu ý các tác dụng phụ của thuốc, cũng như hiện tượng tái phát nặng nề hơn khi ngưng thuốc, do đó corticoid hệ thống chỉ nên dùng giới hạn trong một thời gian ngắn, sau đó chuyển sang thuốc thoa.

Ngoài ra còn các thuốc khác như:

  • Cyclosporine, Azathioprine, Mycophenolate mofetil, Methotrexate.
  • Thuốc sinh học nhắm trúng đích phân tử: Alefacept, Rituximab, Omalizumab.
  • Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu với dị ứng nguyên.

Thuốc kháng Histamin

Vai trò của Histamine trong cơ chế gây ngứa còn nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, điều trị kháng Histamin cũng có tác dụng trên một số bệnh nhân để giảm ngứa, cải thiện giấc ngủ, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Có 2 loại kháng histamin gây ngủ và không gây ngủ. Nên dùng nhóm gây ngủ vì có thể giúp phá vỡ chu trình ngứa-gãi, đặc biệt khi đi ngủ. Nó rất hữu ích ở bệnh nhân bị ngứa gây ảnh hưởng giấc ngủ hoặc cào gãi về đêm.

Kháng sinh

Bệnh nhân viêm da cơ địa thường bị sự bội nhiễm bởi vi trùng như Staphylococcus aureus, Herpes simplex, Human papillomavirus, Malasssezia furfur… Người ta ghi nhận ở bệnh nhân viêm da cơ địa có sự hiện diện của Staphylococcus aureus trong 90% sang thương da và 70% vùng da không bị tổn thương. Điều trị kháng Staphylococcus aureus cải thiện đáng kể tình trạng nhiễm trùng và có thể có ích ở vùng da không nhiễm trùng.

Kháng sinh thoa tại chỗ có thể có ích trong điều trị bội nhiễm khu trú. Tuy nhiên dùng kéo dài có nguy cơ tăng sự đề kháng nên không được khuyến cáo. Điều trị kháng sinh đường toàn thân được khuyến cáo ngắn hạn trong trường hợp da có triệu chứng bội nhiễm rõ ràng.

BS Lê Thái Vân Thanh

Trưởng khoa Da liễu – Thẩm mỹ Da, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Bảo vệ làn da của bạn mùa Covid-19

Trong mùa dịch, làn da của chúng ta đã phải “chịu đựng” rất nhiều những yếu tố bất lợi. Việc phải rửa tay, khử khuẩn nhiều hơn để phòng dịch, khiến tay chúng ta bị …

Chữa bệnh phải trị tận … gốc!

Không ai vui gì nếu mái tóc thưa dần vì lượng tóc rụng nhiều hơn số sợi tóc đâm chồi, nếu mái tóc đen huyền bỗng đổi sang gam bạc, khi gia chủ mới … …

Mùa mưa - cẩn trọng với những bệnh về da

Ở nước ta, mùa mưa thường bắt đầu từ cuối tháng 4, hoặc đầu tháng 5 và kéo dài cho đến tháng 10. Mùa mưa mang đến sự tươi mới cho đất trời, cái nóng …

Ung thư da - Cách nhận biết sớm và phòng ngừa

Ung thư da là một trong những loại ung thư phổ biến tại Việt Nam, nguyên nhân là do sự tăng trưởng bất thường của các tế bào da. Ung thư da mặc dù nguy …

Zona (Bệnh giời leo)

Định nghĩa Zona hay “bệnh giời leo” (theo cách gọi dân gian) là bệnh có triệu chứng đau, có sang thương là bóng nước mọc thành chùm trên nền hồng ban do Virus Varicella-Zoster nằm trong …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi