Ngành Nam học và công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật”. Cũng theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời”.

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng sức khỏe sinh sản khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản. Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những bệnh nhiễm trùng qua đường tình dục.

Sức khỏe tình dục là quyền cơ bản, theo Tổ chức Y tế Thế giới (1974): “Có những quyền cá nhân cơ bản, bao gồm quyền có sức khỏe tình dục, khả năng hưởng thụ và kiểm soát hành vi tình dục, sinh sản phù hợp với đạo đức xã hội và cá nhân”. Còn theo Hội đồng Quốc tế về giáo dục sức khoẻ tình dục nam giới (2001): “Những người bị rối loạn chức năng tình dục đều có quyền được chẩn đoán và điều trị thích hợp”.

Ngành Nam học và công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới

Chăm sóc sức khỏe cho chị em phụ nữ.

Ở Việt Nam, với nữ, từ lâu đã có ngành Sản phụ khoa. Nhưng, mãi tới những năm cuối thế kỷ XX mới manh nha có ngành Nam học, chăm sóc sức khỏe cho nam giới. Thực tế cho thấy, ngoại trừ ở một số quốc gia, nam học vẫn là một lĩnh vực chuyên khoa phụ trong tiết niệu. Ở Việt Nam, ngành Nam học đã dần khẳng định được vị thế của mình và sẵn sàng tách biệt ra thành một chuyên ngành độc lập.

Các lĩnh vực chuyên môn của công tác Chăm sóc Sức khỏe sinh sản nam giới như sau: (1) sức khỏe tình dục (các vấn đề về tình dục), vô sinh hiếm muộn, thiểu năng tinh hoàn (suy sinh dục), các dị tật của cơ quan sinh dục, các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục, các bệnh lý đường tiết niệu liên quan đến hệ sinh dục nam, tư vấn tâm lý…

Vi phẫu thuật.

Việc chẩn đoán và điều trị các rối loạn hoạt động tình dục ở nam giới như rối loạn cương, rối loạn xuất tinh, rối loạn ham muốn tình dục… là một trong các nhiệm vụ quan trọng của bác sĩ Nam học. Rối loạn cương dương là một trong những rối loạn tình dục hay gặp ở nam giới. Đó là tình trạng mà người nam giới, mặc dù có ham muốn tình dục, nhưng dương vật không thể cương được, hoặc cương được nhưng không đủ cứng để quan hệ tình dục hoặc có thể quan hệ được nhưng dương vật dễ bị mềm xìu mà không thể duy trì được quan hệ tình dục một cách trọn vẹn, một số nơi gọi tình trạng này là “bất lực”. Trong nhiều thế kỷ, chứng “bất lực” được cho là kết quả của các nguyên nhân tâm thần (hoặc tâm lý), rất nhiều bệnh nhân đã trải qua điều trị tâm thần không hiệu quả, hoặc tệ hơn là trở thành “con mồi” của thuốc kích dục và các dạng “thuốc” hoàn toàn vô dụng khác.

Xuất tinh sớm cũng là một rối loạn tình dục hay gặp ở nam giới. Xuất tinh sớm nằm trong nhóm rối loạn xuất tinh gồm xuất tinh sớm, xuất tinh muộn, không xuất tinh, xuất tinh ngược dòng… Người nam giới bị xuất tinh sớm, mặc dù dương vật có thể cương được thậm chí khi cương không đủ độ cứng, nhưng vẫn bị xuất tinh mà không thể kiểm soát được. Xuất tinh muộn là tình trạng người nam giới mặc dù muốn xuất tinh nhưng cố mãi mới xuất tinh được, gây mệt mỏi cho cả hai phía. Không xuất tinh là tình trạng người nam giới không thể xuất tinh được, mặc dù đã cố gắng hết sức. Những rối loạn tình dục này gây hụt hẫng, khó chịu rất nhiều cho cả hai phía nam và nữ, ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc gia đình.

Nghiên cứu hiện đã đưa ra kết luận rằng rối loạn cương dương có nguyên nhân thực thể (hoặc sinh lý) trong gần 90% trường hợp. Và giống như hầu hết các vấn đề sinh lý khác, rối loạn cương dương thường có thể chữa khỏi. Tuy nhiên, người phụ nữ thường bị đổ lỗi cho vấn đề của người nam giới, thường bị cho là “lãnh cảm” thay vì người đàn ông cần phải giải quyết vấn đề của mình!

Chăm sóc thế hệ sau.

Điều này cũng tương tự với vô sinh nam, một tình trạng bệnh nam khoa rất phổ biến khác. Mặc dù người đàn ông phải chịu trách nhiệm cho gần 50% tỷ lệ không có con của các cặp vợ chồng, nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, người phụ nữ vẫn thường bị đổ lỗi. Nếu như trước đây, một cặp vợ chồng bị vô sinh thường sẽ chỉ biết đi đến khám tại cơ sở chuyên ngành Sản phụ khoa thì ngày nay, nhờ sự phát triển của Nam học, đã giải oan cho rất nhiều cặp vợ chồng, đặc biệt cho phía nữ. Sự phát triển của Nam học trong chẩn đoán và điều trị vô sinh rất mạnh mẽ trong thời gian qua. Trước đây, việc chẩn đoán vô sinh nam giới chỉ dựa vào xét nghiệm tinh dịch đồ làm theo phương pháp thủ công thì trong vài năm gần đây, tại các phòng xét nghiệm lớn đã áp dụng hệ thống máy phân tích tinh dịch đồ có sự hỗ trợ của vi tính (CASA). Với hệ thống này, nhiều thông số về tinh trùng được phản ánh một cách chính xác và khách quan hơn. Các xét nghiệm chức năng tinh trùng, mối liên quan giữa sự toàn vẹn ADN của tinh trùng và khả năng sinh sản của nam giới đã được xác định, các phương pháp xác định đột biến mất đoạn tại vùng AZF của nhiễm sắc thể Y… đã được tiến hành, giúp xác định nguyên nhân của các trường hợp không có tinh trùng, hoặc tinh trùng ít và giúp sàng lọc trước khi quyết định tiến hành các biện pháp PESA, TESA, MESA, microTESE… lấy tinh trùng để làm hỗ trợ sinh sản.

Suy giảm chức năng sinh dục có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống và đóng góp vào nguyên nhân khiến các cặp vợ chồng dẫn đến ly hôn. Suy sinh dục nam có biểu hiện đặc trưng là sự thiếu hụt testosterone – một loại hormone quan trọng đối với chức năng và sự phát triển của cơ thể, nhận thức, tình dục. Chỉ số testosterone thấp có thể dẫn đến biểu hiện về lâm sàng không có các đặc điểm giới tính thứ cấp, vô sinh, suy nhược cơ và các bất thường khác. Điều này có thể do bất thường về tinh hoàn, vùng dưới đồi hoặc tuyến yên.

Chăm sóc thế hệ sau.

Các dị tật của cơ quan sinh dục nam giới cũng là một trong những lĩnh vực của Nam học. Bất thường ở cơ quan sinh dục ngoài của nam giới bao gồm các tổn thương có thể bẩm sinh hoặc mắc phải, thường gặp nhiều trẻ em do cha mẹ bỏ quên. Điều này một phần do nhiều cha mẹ có thể không chắc chắn về cơ quan sinh dục ngoài bình thường là như thế nào, hoặc không để ý đến chuyện này. Khi phát hiện muộn, có thể gặp các biến chứng đe dọa tính mạng như thoát vị nghẹt hoặc di chứng nghiêm trọng như vô sinh, ung thư. Thời gian tối ưu để điều trị hầu hết các tổn thương có thể xử lý bằng phẫu thuật này là giai đoạn sơ sinh và thời thơ ấu. Những bệnh bẩm sinh bao gồm lỗ đái lệch thấp, lỗ đái lệch cao, hẹp bao quy đầu, lún dương vật, dương vật nhỏ, cơ quan sinh dục không rõ ràng, hẹp bao quy đầu, cong dương vật, thoát vị, tràn dịch màng tinh hoàn, ẩn tinh hoàn, nang mào tinh hoàn… Những bệnh mắc phải có thể do cắt bao quy đầu, bao gồm bao quy đầu dư thừa, cắt bỏ quá nhiều da, hẹp thịt, u hạt, xoắn dương vật, hẹp bao quy đầu thứ cấp, cầu da, cắt cụt quy đầu, bao quy đầu, lỗ rò niệu đạo…

Với vai trò là người chuyên điều trị các bệnh lý đường tiểu dưới cho nam giới, đối với các bác sĩ Nam học, các nhiễm khuẩn đường tiết niệu, các viêm nhiễm ở bộ phận sinh dục là một vấn đề lớn. Kể từ khi chuyên ngành Nam học ra đời, số lượng bệnh nhân nam mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường tiểu dưới, trong đó có cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục, tìm đến gặp các bác sĩ Nam học ngày càng nhiều. Nếu như trước đây các bác sĩ Tiết niệu chỉ tiếp nhận điều trị các viêm nhiễm đường tiểu dưới do các vi khuẩn không đặc hiệu (những vi khuẩn thông thường) còn các trường hợp do các vi khuẩn đặc hiệu (lậu cầu, chlamydia, herpes, giang mai…) sẽ được chuyển cho các bác sĩ Da liễu, thì ngày nay họ đang dần dần nhận trách nhiệm này về phần mình, vì hơn ai hết chính họ đã nhận ra rằng họ là những người có hiểu biết tường tận về cấu tạo giải phẫu, sinh lý chức năng của đường sinh dục nam giới. Vì vậy, việc thể hiện vai trò trong việc điều trị các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng là điều hợp lý.

Cùng với sự phát triển của các xét nghiệm giúp chẩn đoán chính xác được bản chất và nguyên nhân của bệnh, sự phát triển của các phương tiện và kỹ thuật mổ cũng đóng góp vai trò không nhỏ trong việc điều trị thành công nhiều ca bệnh khó. Các phẫu thuật kinh điển dần dần được thay thế bằng các kỹ thuật chuyên sâu như vi phẫu thuật, phẫu thuật tạo hình và nội soi đường dẫn tinh. Vi phẫu thuật là một loại phẫu thuật không thể thiếu được trong Nam học. Với sự trợ giúp của những thế hệ kính vi phẫu thuật hiện đại việc phẫu thuật nối ống dẫn tinh – ống dẫn tinh, ống dẫn tinh – ống mào tinh hoàn nhằm lập lại lưu thông tinh trùng từ tinh hoàn ra ngoài đã giúp điều trị thành công nhiều cặp vô sinh tưởng chừng như y học đành bó tay, mang lại hạnh phúc cho nhiều cặp vợ chồng vô sinh do tắc. Các vi phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh để điều trị vô sinh do giãn tĩnh mạch tinh đã mang lại hiệu quả cao trong việc làm cải thiện cả số lượng và chất lượng tinh trùng và cải thiện đáng kể tỷ lệ có thai. Cũng nhờ kính vi phẫu mà nhiều dương vật bị cắt cụt đã được nối lại thành công, khôi phục hoàn toàn cả chức năng và giải phẫu. Ngoài ra, còn rất nhiều phương pháp can thiệp ít sang chấn khác được sử dụng để điều trị các vấn đề Nam học như dụng cụ hút chân không, dụng cụ nắn chỉnh dương vật, sóng xung kích…

Điều trị các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản nam giới không thể thiếu vai trò của tư vấn, hỗ trợ tâm lý. Tư vấn, hỗ trợ tâm lý có thể là một phần của liệu trình điều trị, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, nhưng cũng là một yếu tố độc lập vì không phải tất cả các vấn đề của sinh sản nam giới đều phải can thiệp điều trị. Nhiều khi, chỉ cần tư vấn, hỗ trợ tâm lý tốt là người nam giới đã có thể quay về cuộc sống hàng ngày một cách tích cực.

Nam học và Y học giới tính

Xu hướng thế giới hiện nay, Nam học gắn liền với Y học giới tính.

Y học giới tính (sexual medicine) là một nhánh của y học liên quan đến chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa các rối loạn chức năng tình dục. Ví dụ về các rối loạn được điều trị bằng thuốc tình dục là rối loạn cương dương, thiểu năng sinh dục và ung thư tuyến tiền liệt. Y học giới tính thường sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành liên quan đến bác sĩ, chuyên gia sức khỏe tâm thần, nhân viên xã hội và nhà trị liệu tình dục. Y học giới tính giải quyết các vấn đề về rối loạn chức năng tình dục, giáo dục giới tính, rối loạn phát triển giới tính, nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, tuổi dậy thì và các bệnh của hệ thống sinh sản. Y học giới tính kết nối với nhiều chuyên ngành y tế với các mức độ giao thoa khác nhau bao gồm y học sinh sản, tiết niệu, tâm thần học, di truyền học, phụ khoa, nam khoa, nội tiết và chăm sóc ban đầu.

Khái niệm về y học giới tính chỉ xuất hiện từ nửa sau của thế kỷ 20, đặc biệt là vào khoảng thời gian diễn ra cuộc cách mạng tình dục trong những năm 1960 và 70, khi bùng nổ hiện tượng trẻ em gia tăng sử dụng thuốc tránh thai. Trước đó, thảo luận cởi mở về tình dục được coi là điều cấm kỵ. Các lý thuyết phân tâm học về tình dục, như các lý thuyết do Sigmund Freud và Helene Deutsch đề xuất, được coi là có nhiều tranh cãi. Mãi cho đến thời kỳ bùng nổ trẻ em sau Thế chiến thứ hai và cuộc cách mạng tình dục những năm 1960 và 1970, tình dục và sau đó là rối loạn tình dục, mới trở thành một chủ đề thảo luận được chấp nhận nhiều hơn.

Trên thực tế, bác sĩ tiết niệu là chuyên khoa y tế đầu tiên thực hành y học giới tính. Việc thực hành của họ không chỉ tập trung vào đường tiết niệu (thận, bàng quang và niệu đạo) mà còn rất chú trọng đến cơ quan sinh sản nam và khả năng sinh sản của nam giới. Ngày nay, y học giới tính đã vươn tới một loạt các chuyên ngành y tế, cũng như các nhà tâm lý học và nhân viên xã hội…

Y học giới tính đóng một vai trò trong nhiều chuyên ngành y tế, từ nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu đến bác sĩ sức khỏe tình dục cho đến nhà tình dục học. Vai trò của bác sĩ trong việc xem xét tiền sử tình dục là rất quan trọng trong việc chẩn đoán một người nào đó có biểu hiện rối loạn chức năng tình dục.

Rối loạn chức năng tình dục ở nam giới thường liên quan đến sự thiếu hụt testosterone. Các dấu hiệu và triệu chứng của sự thiếu hụt testosterone khác nhau ở mỗi cá nhân. Do đó, khám sức khỏe có thể được thực hiện cho những người đàn ông nghi ngờ thiếu hụt testosterone để xác định các dấu hiệu thể chất của rối loạn. Các dấu hiệu thể chất phổ biến bao gồm mệt mỏi, tăng mỡ trong cơ thể, tăng cân, yếu cơ và tâm trạng chán nản.

Các danh mục chẩn đoán rối loạn tình dục được liệt kê trong cả ICD-10 và DSM-5. ICD-10 phân loại các rối loạn theo ham muốn tình dục, kích thích tình dục, cực khoái và đau tình dục, trong khi DSM-5 phân loại các rối loạn chức năng theo giới tính, chất / thuốc gây ra, rối loạn cảm xúc hoặc giới tính.

Tư vấn cho cặp vợ chồng.

Nguy cơ phát triển rối loạn chức năng tình dục tăng lên theo tuổi ở cả nam và nữ. Có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến rối loạn chức năng tình dục ở cả nam và nữ. Bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh sinh dục, rối loạn tâm lý / tâm thần và sự hiện diện của bệnh mãn tính đều là những yếu tố nguy cơ phổ biến để phát triển rối loạn chức năng tình dục. Rối loạn chức năng nội mô là một yếu tố nguy cơ có liên quan đặc biệt với rối loạn cương dương. Tiền sử gia đình về bệnh rối loạn chức năng tình dục trong quá khứ cũng là một yếu tố nguy cơ cho sự phát triển. Các yếu tố văn hóa xã hội cũng có thể góp phần vào các vấn đề tình dục, chẳng hạn như niềm tin cá nhân, tôn giáo hoặc văn hóa về tình dục. Hạnh phúc cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của một cá nhân. Căng thẳng và mệt mỏi có thể góp phần làm giảm phản ứng hoặc hứng thú tình dục. Mệt mỏi có thể do ngủ không ngon hoặc một vấn đề y tế tiềm ẩn khác. Lạm dụng tình dục hiện tại hoặc trong quá khứ, dù thể chất hay tinh thần, cũng là một yếu tố nguy cơ phát triển các vấn đề tình dục. Rối loạn chức năng tình dục là những vấn đề tình dục liên tục xảy ra trong cuộc sống của một người, gây thêm căng thẳng và khó khăn cho các mối quan hệ cá nhân. Các tình trạng bẩm sinh hoặc mắc phải như không có cơ quan sinh dục, lưỡng tính và các dị tật di truyền khác, hoặc chấn thương như cắt cụt hoặc bị rách… đều có thể gây cản trở sức khỏe tình dục.

Như vậy, Nam học trực tiếp chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phái nam và gián tiếp chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phái nữ thông qua y học giới tính, tức là chăm sóc sức khỏe toàn dân.

 TTƯT. PGS. TS. BS Nguyễn Quang

Giám đốc Trung tâm Nam học – Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

PCT Hội Y học giới tính Việt Nam (VSSM)

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Đàn ông dễ yếu chỗ nào?

Không ai vui gì khi nhận kết quả siêu âm với lời bàn “phì đại tiền liệt tuyến” nghe thấy ớn. Kẹt chính ở chỗ đàn ông khi mấp mé tuổi về hưu không ai …

Nam giới và khám sức khỏe tiền hôn nhân

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ vô sinh cao. Điều đáng nói là mỗi năm có hàng trăm nghìn …

“Tinh binh” bị yếu vì đâu nên nỗi?

Năm mới, ai cũng chúc nhau sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý, phúc lộc đến nhà, rồi các gia đình có con tuổi cập kê cưới hỏi thì cuối năm có thêm người …

Mãn dục nam

Suy sinh dục khởi phát muộn (LOH – late onset hypogonadism) ở nam giới (hay Mãn dục nam) được ghi nhận ngày càng tăng do dân số ngày càng già hóa. Khi tuổi cao, nam …

Rối loạn cương dương

Rối loạn cương dương là một bệnh mang tính xã hội. Bệnh tuy không gây tử vong, cũng không cần phải xử trí cấp cứu nhưng về lâu dài gây ảnh hưởng sâu sắc đến …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi