Khi mắc Bệnh dại – Tử vong 100%

Làm sao để phòng tránh bệnh dại?

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 50.000 – 70.000 người tử vong do bệnh dại ở hơn 150 quốc gia, chủ yếu từ những nhóm dân cư nghèo hoặc dễ bị tổn thương, trên 10 triệu người phải điều trị dự phòng bằng vắc xin dại. Ở Việt Nam, mỗi năm có tới gần 100 người chết do bệnh dại, hơn 400 ngàn người bị chó, mèo cắn phải đi tiêm phòng. Bệnh dại là một trong những bệnh lâu đời và nguy hiểm nhất. Khi đã có dấu hiệu lâm sàng thì tỷ lệ tử vong là 100%.

Bệnh dại là bệnh do virus dại (rabies virus) gây nên. Đây là một bệnh truyền nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương dẫn đến tử vong chắc chắn. Các triệu chứng ban đầu có thể bao gồm sốt và ngứa ran ở vết thương hoặc điểm tiếp xúc, sau đó là một hoặc nhiều triệu chứng sau: cử động dữ dội, hưng phấn không kiểm soát, sợ nước, không thể di chuyển các bộ phận của cơ thể, nhầm lẫn và mất ý thức. Một khi đã xuất hiện các triệu chứng thì bệnh nhân sẽ chắc chắn tử vong. Thời gian từ khi mắc bệnh và bắt đầu xuất hiện các triệu chứng thường là một đến ba tháng, có thể từ dưới một tuần đến hơn một năm, phụ thuộc vào khoảng cách virus di chuyển dọc theo dây thần kinh ngoại biên để đến hệ thần kinh trung ương. Bệnh dại có thể gặp ở tất cả động vật có vú.

Bệnh dại do Lyssavirus gây ra, bao gồm virus dại và virus Lyssa dơi của Úc. Bệnh lây truyền chủ yếu do các chất tiết bị nhiễm, thường do vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại khác, kể cả con người. Nước dãi của động vật bị dại cũng có thể truyền bệnh dại nếu tiếp xúc với mắt, miệng hoặc mũi. Chó là động vật bị dại phổ biến nhất. Hơn 99% các trường hợp mắc bệnh dại ở các quốc gia là do bị chó dại cắn. Ở châu Mỹ, dơi cắn là nguồn lây nhiễm bệnh dại phổ biến nhất ở người và ít hơn 5% trường hợp là do chó. Loài gặm nhấm rất hiếm khi bị nhiễm bệnh dại. Bệnh này chỉ có thể được chẩn đoán sau khi bắt đầu có các triệu chứng.

Các chương trình kiểm soát động vật và tiêm phòng đã làm giảm nguy cơ mắc bệnh dại từ chó ở một số khu vực trên thế giới. Việc tiêm chủng cho người trước khi họ bị phơi nhiễm được khuyến khích cho những người có nguy cơ cao, bao gồm cả những người làm việc với dơi hoặc những người sống trong thời gian dài ở các khu vực trên thế giới có bệnh dại phổ biến. Ở những người đã tiếp xúc với bệnh dại, thuốc chủng ngừa bệnh dại và đôi khi là globulin miễn dịch phòng bệnh dại có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh nếu người đó được điều trị trước khi bắt đầu có các triệu chứng bệnh dại. Rửa vết cắn và vết xước trong 15 phút bằng xà phòng và nước, povidone-iodine, hoặc chất tẩy rửa có thể làm giảm số lượng các phần tử virus và có thể phần nào hiệu quả trong việc ngăn ngừa lây truyền. Tính đến năm 2016,chỉ có 14 người sống sót sau khi xuất hiện các triệu chứng nhiễm bệnh dại.

Biểu hiện khi bị bệnh dại

Đặc điểm của bệnh Dại

Bệnh dại là bệnh nhiễm vi rút cấp tính của hệ thống thần kinh trung ương từ động vật lây sang người bởi chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm vi rút dại. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại, đôi khi có thể bị nhiễm qua đường tiếp xúc như hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm vi rút dại. Khi đã lên cơn dại, kể cả động vật và người đều dẫn đến tử vong.

  • Giai đoạn tiền triệu chứng: thường 1- 4 ngày, biểu hiện cảm giác sợ hãi, đau đầu, sốt, mệt mỏi, khó chịu, cảm giác tê và đau tại vết thương nơi vi rút xâm nhập.
  • Giai đoạn viêm não thường biểu hiện mất ngủ, tăng cảm giác kích thích như: sợ ánh sáng, tiếng động và gió nhẹ. Ngoài ra, còn có rối loạn hệ thần kinh thực vật như giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi, hạ huyết áp, đôi khi có biểu hiện xuất tinh tự nhiên.

Bệnh tiến triển theo hai thể: thể liệt kiểu hướng thượng (hội chứng Landly) và thể cuồng. Bệnh thường kéo dài từ 2 – 6 ngày, đôi khi lâu hơn và chết do liệt cơ hô hấp.

Chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt là các chứng sợ nước, sợ gió, sợ ánh sáng với các yếu tố dịch tễ học có liên quan.

Chẩn đoán xác định: bằng xét nghiệm kháng thể miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (IFA) từ mô não hoặc phân lập vi rút trên chuột hay trên hệ thống nuôi cấy tế bào. Có thể dựa vào kết quả xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang của các mảnh cắt da đã làm đông lạnh lấy từ rìa tóc ở gáy bệnh nhân hoặc chẩn đoán huyết thanh bằng phản ứng trung hoà trên chuột hay trên nuôi cấy tế bào. Ngày nay, với kỹ thuật mới có thể phát hiện được ARN của vi rút dại bằng phản ứng PCR hoặc phản ứng RT-PCR.

Xét nghiệm xác định bệnh dại

Nguyên nhân gây bệnh Dại

  • Tác nhân gây bệnh là vi rút dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus.
  • Sức đề kháng của vi rút dại yếu, dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 56ºC trong vòng 30 phút, ở 60ºC/5-10 phút và ở 70ºC/2 phút. Vi rút bị mất độc lực dưới ánh sáng và các chất sát khuẩn ở nồng độ 2-5%. Trong điều kiện lạnh 4ºC, vi rút sống được từ vài tuần đến 12 tháng, ở nhiệt độ dưới 0ºC sống được từ 3 – 4 năm. Vi rút dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ thể vật chủ.
  • Có 2 chủng vi rút dại: vi rút dại đường phố là vi rút dại tồn tại trên động vật bị bệnh và vi rút dại cố định (cố định thời gian ủ bệnh trên thỏ). Chủng vi rút dại cố định được dùng để làm vắc xin dại lần đầu tiên bởi Louis Pasteur.

Đường lây truyền bệnh Dại

  • Ổ chứa vi rút dại trong thiên nhiên là động vật có vú máu nóng, nhất là ở chó hoang dã như chó sói đồng, chó sói, chó rừng và chó nhà. Ngoài ra, ổ chứa vi rút dại còn ở mèo, chồn, cầy và những động vật có vú khác.
  • Ở Việt Nam, nguồn truyền bệnh dại là động vật có vú hoang dã và động vật sống gần người, nhiều nhất là chó chiếm 96-97%, sau đó là mèo 3- 4%, động vật khác (thỏ, chuột, sóc…) chưa phát hiện được.
  • Bệnh dại được lây nhiễm qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương. Khi đến thần kinh trung ương, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Tại thời điểm này, thần kinh chưa bị tổn thương đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn bình thường nhưng nước bọt đã có vi rút dại. Sau đó, vi rút dại hủy hoại dần các tế bào thần kinh làm xuất hiện các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh dại.

– Thời kỳ ủ bệnh: Thường thời gian ủ bệnh dại ở người từ 2-8 tuần, có thể ngắn khoảng 10 ngày hoặc dài trên một năm hoặc hai năm. Thời gian ủ bệnh phụ thuộc vào số lượng vi rút xâm nhập vào cơ thể, sự nặng nhẹ của vết thương, khoảng cách xa gần từ vết thương đến não bộ. Vết thương nặng, gần thần kinh trung ương thì thời gian ủ bệnh ngắn.

– Thời kỳ lây truyền: Ở chó và mèo thường từ 3-7 ngày trước khi c ó dấu hiệu lâm sàng và trong suốt thời kỳ súc vật bị bệnh.

tiêm ngừa bệnh dại cho thú nuôi

Biện pháp dự phòng và điều trị

  1. Truyền thông phòng chống bệnh dại

Tuyên truyền tới từng hộ gia đình về tính chất nguy hiểm của bệnh dại, các biện pháp phòng, chống bệnh dại trước và sau phơi nhiễm cho người và động vật để người dân chủ động phòng bệnh cho bản thân và cộng đồng.

  • Tuyên truyền, vận động các tổ chức, cá nhân nuôi, buôn bán, giết mổ, vận chuyển kinh doanh chó, mèo trong từng thôn, xóm, xã, phường thực hiện các biện pháp quản lý và phòng bệnh trên đàn chó nuôi theo hướng dẫn của cán bộ thú y, ký cam kết thực hiện 5 không: “không nuôi chó mèo không tiêm phòng dại”, “không nuôi chó, mèo chưa khai báo với chính quyền địa phương”, “không nuôi chó thả rông”, “không để chó cắn người”, “không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường”.
  • Tuyên truyền cho những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại thực hiện tiêm phòng trước phơi nhiễm và những người bị phơi nhiễm với động vật bị bệnh dại hoặc nghi mắc bệnh dại thực hiện điều trị dự phòng bằng vắc xin, huyết thanh kháng dại theo hướng dẫn của cán bộ y tế.

1.1. Dự phòng trước phơi nhiễm

  • Tiêm vắc xin dự phòng bệnh dại cho những người có nguy cơ cao phơi nhiễm với vi rút dại như cán bộ thú y, nhân viên phòng thí nghiệm làm việc với vi rút dại, người làm nghề giết mổ chó, người dân và những người đi du lịch đến các khu vực lưu hành bệnh dại.
  • Tiêm nhắc lại theo định kỳ: Áp dụng cho những người do công việc thường xuyên có nguy cơ tiếp xúc với vi rút dại và chỉ tiêm nhắc lại 1 liều khi xét nghiệm chuẩn độ kháng thể dại ở mức dưới 0,5UI/ml.

1.2. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm

Điều trị dự phòng nên được tiến hành càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, bao gồm: rửa vết thương, tiêm vắc xin phòng dại và sử dụng huyết thanh kháng dại nếu có chỉ định.

1.2.1. Xử lý vết thương

  • Rửa kỹ tất cả các vết cắn/cào trong 15 phút với nước và xà phòng, hoặc nước sạch, sau đó sát khuẩn bằng cồn 45°-70° hoặc cồn i ốt để làm giảm thiểu lượng vi rút dại tại vết cắn. Có thể sử dụng các chất khử trùng thông thường như rượu, cồn, xà phòng các loại, dầu gội, dầu tắm để rửa vết thương ngay sau khi bị cắn.
  • Không làm dập nát thêm vết thương hoặc làm tổn thương rộng hơn, tránh khâu kín ngay vết thương. Trường hợp bắt buộc phải khâu thì nên trì hoãn khâu vết thương sau vài giờ đến 3 ngày và nên khâu ngắt quãng/bỏ mũi sau khi đã tiêm phòng bế huyết thanh kháng dại vào tất cả các vết thương.
  • Tùy trường hợp cụ thể có thể sử dụng kháng sinh và tiêm phòng uốn ván.

1.2.2. Nguyên tắc điều trị dự phòng

Chỉ định dùng vắc xin và huyết thanh kháng dại trong điều trị dự phòng bệnh dại tùy theo tình trạng động vật, hoàn cảnh bị cắn hoặc tiếp xúc với nguồn bệnh, vị trí bị cắn, số lượng, tình trạng vết cắn và tình hình bệnh dại trong vùng. Chỉ định điều trị dự phòng bệnh bệnh dại sau phơi nhiễm đối với những người chưa được tiêm phòng bệnh dại theo bảng tóm tắt dưới đây

Tóm tắt chỉ định điều trị dự phòng bệnh dại

Lưu ý

  • Các vết thương do động vật hoang dã cắn cần xử lý và điều trị như đối với động vật bị bệnh dại. Nếu các con vật này được bắt ngay và làm xét nghiệm có kết quả âm tính với bệnh dại thì có thể dừng điều trị dự phòng.
  • Các vết thương do động vật gặm nhấm, gia súc cắn thì xem xét chỉ định tiêm vắc xin dại mà không cần tiêm huyết thanh kháng dại.
  • Sử dụng vắc xin phòng dại và huyết thanh kháng dại: đường tiêm, lịch tiêm và liều lượng cần tuân thủ theo hướng dẫn của nhà sản xuất đã được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép.

TS. BS Lê Văn Nhân

Giảng viên trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Các bệnh truyền nhiễm có thể phòng ngừa bằng vắc- xin

Dại Dại là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút gây ra, lây qua niêm mạc hoặc da có vết thương do động vật có máu nóng (chó, mèo, dơi...) bị bệnh dại cắn, liếm, …

Những ngộ nhận và sự thật về bệnh dại

Lại những thông tin về những trường hợp tử vong do bệnh dại được các phương tiện truyền thông đăng tải như lời cảnh báo! Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bệnh dại …

Phòng ngừa bệnh dại

Phòng ngừa bệnh dại (Sức Khỏe – khoe24h) Phòng ngừa bệnh Dại gồm 3 nội dung chính: Kiểm soát súc vật nghi Dại, xử lý vết thương, tiêm ngừa càng sớm càng tốt. Kiểm soát súc vật …

Bệnh dại - Đặc điểm dịch tễ và triệu chứng biểu hiện

Bệnh dại - Đặc điểm dịch tễ và triệu chứng biểu hiện (Sức Khỏe – khoe24h) Bệnh dại là bệnh của động vật, có thể là động vật hoang dại (thường là động vật ăn thịt: …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi