Kết hợp Đông- Tây y – Xu hướng của thời đại

Đông Tây y

Những năm đầu của thế kỷ 21, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã vẽ được bản đồ có trên 150 quốc gia – vùng lãnh thổ trên toàn cầu sử dụng Y học cổ truyền (YHCT) trong chăm sóc sức khoẻ và điều trị bệnh cho người dân. Theo WHO, YHCT là nền y học sử dụng các biện pháp tự nhiên, có tính truyền thống tích lũy từ kinh nghiệm, ứng dụng vào chăm sóc và điều trị bệnh. Ở những quốc gia có nền y học thực chứng (Y học hiện đại) là chủ đạo, những biện pháp điều trị này được gọi dưới tên “Y học truyền thống”; “Y học thay thế”, “Y học không chính thống” – tên gọi chung là “Y học hỗ trợ” CAM (Complementary Alternative Medicine). YHCT ở nước ta còn gọi là Đông y. Đông- Tây y là hai nền y học có cơ sở lý luận khác nhau, nhưng cùng một mục đích trong chăm sóc, phòng và chữa bệnh cho người.

Đông y là nền y học có cơ sở lý luận dựa trên triết học Đông phương, gồm các học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Thiên nhân hợp nhất. Do vậy, đứng trước bệnh nhân, người thầy thuốc YHCT thường nhìn người bệnh toàn diện và biện chứng luận trị một cách hệ thống. Nguyên tắc điều trị bao giờ cũng nâng cao sức đề kháng của cơ thể (phù chính) rồi mới tấn công bệnh (khu tà), tái tạo lại quân bình cho cơ thể, khắc phục bệnh tật. Phương pháp điều trị bao gồm Châm cứu, Bấm huyệt, Khí công, Tập luyện, Dinh dưỡng và Thuốc từ dược liệu (cây cỏ thực vật, động vật, khoáng chất) có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện với con người, đa phần là ít độc và ít có tác dụng phụ, khá phù hợp với điều trị các loại bệnh mạn tính và phòng bệnh. Dù vậy, YHCT cũng có những hạn chế, đó là việc chẩn đoán bệnh cảnh lâm sàng chưa được tiêu chuẩn hoá, các nghiên cứu minh chứng giá trị khoa học của các bài thuốc cổ phương chưa nhiều, các nghiên cứu đa phần là Tây y hoá Đông y thay vì hiện đại hoá Đông y, chưa nghiên cứu đầy đủ các phác đồ kết hợp Đông- Tây y điều trị các bệnh mạn tính… Thậm chí một số các phương tiện điều trị còn thô sơ, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân…

Tây y là nền y học dựa trên bằng chứng, còn gọi là Y học hiện đại (YHHĐ). Tây y đi từ thực nghiệm rồi mới hình thành lý thuyết, mọi mô tả, quan sát các sự vật hiện tượng đều được kiểm chứng thực tế khách quan, cân đong đo đếm một cách cụ thể. Công nghệ khoa học tiên tiến của nhân loại giúp sáng chế các trang thiết bị hiện đại, các hóa dược mạnh, có thể chẩn đoán, điều trị kịp thời các bệnh lý cấp cứu, các bệnh ngoại khoa, cấp tính, truyền nhiễm… thậm chí nếu cần thiết có thể cấy ghép, thay thế các bộ phận bệnh lý của cơ thể. Tuy nhiên, hạn chế của YHHĐ chính là thuốc tây, dược lý mạnh, tấn công trúng đích, thường có nhiều tác dụng phụ khi sử dụng lâu dài, đưa đến những hệ quả không nhỏ cho sức khoẻ con người. Ngoài ra, sự phát triển quá nhanh, quá sâu của các chuyên khoa hẹp cũng là điều kiện thuận lợi cho khuynh hướng thầy thuốc chỉ quan tâm tới việc chữa bệnh đang mắc, coi nhẹ việc điều trị chăm sóc toàn diện nhằm cải thiện khả năng tự điều chỉnh, chủ động bảo vệ sức khỏe của người bệnh.

Nhằm khắc phục hạn chế và tận dụng thế mạnh đôi bên, xu thế kết hợp Đông – Tây y vào trong điều trị bệnh dần được phát triển.

Đông tây y

Kết hợp Đông Tây y trong chẩn đoán

Người thầy thuốc YHCT thường sử dụng cả hai phương pháp Đông và Tây vào khám và chẩn đoán. Thí dụ một trường hợp được chẩn đoán “Đái tháo đường typ2/ Tăng HA/ Bệnh thận mạn độ 3/ Can Thận âm hư”. Các phương tiện chẩn đoán YHHĐ (Xét nghiệm, siêu âm, nội soi, X Quang…) kết hợp với khám và chẩn đoán theo YHCT nhằm đưa ra chẩn đoán bệnh danh YHHĐ và bệnh cảnh lâm sàng YHCT như trên, từ đó quyết định phương pháp điều trị thích hợp.

Kết hợp Đông – Tây y trong điều trị

Thuần tuý chỉ sử dụng YHCT Phối hợp các phương pháp từ không dùng thuốc (dinh dưỡng, tập luyện, xoa bóp – bấm huyệt, châm cứu) đến dùng thuốc (thuốc thảo dược, thuốc thang sắc, thành phẩm YHCT). Một số ví dụ như:

Trường hợp rối loạn chức năng được chẩn đoán “Rối loạn thần kinh thực vật/ Khí hư Huyết thịnh”, người bệnh ra mồ hôi tay chân, hay thường vã mồ hôi ban ngày, “Tự hãn” mỗi khi căng thẳng… việc điều trị có thể chỉ định châm cứu hoặc dùng bài thuốc Tứ quân bổ khí gia giảm. Hay với trường hợp chẩn đoán “Thoái hoá cột sống thắt lưng/ Can Thận âm hư” có thể dùng Châm cứu phối hợp bài thuốc Độc hoạt tang ký sinh thang để điều trị.

đau nhức xương

Phối hợp các phương pháp hoặc thuốc YHHĐ và YHCT, cụ thể như:

Trong bệnh Viêm khớp dạng thấp (VKDT), một loại bệnh Viêm khớp tự miễn mạn tính, Tây y đã có nhiều bước tiến trong chẩn đoán và điều trị. Trong vòng ba thập niên đến nay, biến chứng tàn phế trên bệnh nhân VKDT được giảm một cách đáng kể nhờ hiểu rõ được cơ chế bệnh sinh của bệnh cũng như nhiều thuốc mới ra đời. Tuy nhiên, tác dụng phụ của thuốc cũng khá nhiều, thậm chí trên một số cơ địa không thể sử dụng thuốc sinh học. Đây sẽ là cơ hội để sử dụng thuốc YHCT. Với chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp/ Phong thấp tý, phác đồ có thể dùng Methotrexate nhằm điều hoà miễn dịch, kết hợp với châm cứu giảm đau và bài thuốc Quyên tý thang (Khương hoạt, Khương hoàng, Xích thược, Hoàng kỳ, Phòng phong, Cốt toái bổ, Ngưu tất, Hy thiêm…) hoặc Quyên tý thang hợp Ngũ linh tán. Nghiên cứu cho thấy phương pháp này có tiềm năng kháng viêm thông qua cơ chế ức chế sự sản xuất quá mức các hóa chất trung gian gây viêm như NO, TNF-α, IL-1β, IL-6 [4,5]. Một nghiên cứu khác sử dụng thuốc thang với vai trò điều hoà miễn dịch kết hợp với NSAIDs giúp giảm đau chống viêm trong VKDT. James W. Daily và cộng sự (2017) [13] đã thực hiện một nghiên cứu phân tích gộp từ 13 thử nghiệm lâm sàng nhằm xác định hiệu quả và tính an toàn của Quế chi thược dược tri mẫu thang (GSZD) trong điều trị VKDT. Kết quả cho thấy so với Methotrexate, GSDZ có hiệu quả trong việc giảm bớt các triệu chứng của VKDT, đồng thời có tác động đến hệ miễn dịch tốt hơn. Như vậy, với bệnh VKDT, tuỳ thuộc mỗi cơ địa khác nhau có thể kết hợp sử dụng thuốc Tây điều trị triệu chứng giảm đau, chống viêm và sử dụng thuốc Đông y trong vai trò điều hoà miễn dịch, bổ dưỡng, tác động lên cơ chế bệnh sinh; hoặc ngược lại kết hợp sử dụng châm cứu và thuốc YHCT trong vai trò điều trị triệu chứng giảm đau – chống viêm và dùng thuốc Tây trong vai trò miễn dịch.

Và trong bệnh ung thư

Hầu hết các bệnh nhân ung thư ở các giai đoạn khác nhau đều có đau (60 – 90%), trong đó có 30% có cơn đau không thể chịu đựng được. Điều trị đau trên bệnh nhân ung thư vẫn đang là thách thức lớn mặc dù phác đồ điều trị đau 3 bậc của WHO đã được thực hành trong 30 năm qua, nhưng hiệu quả lâm sàng là giới hạn. Kiểm soát đau hiệu quả, an toàn, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư là đích quan trọng của điều trị. Trong YHCT, bài thuốc gồm Diên hồ sách (Corydalis Tuber), Thiên nam tinh (Rhizoma Arisaematis), Nhựa cóc (Venenum Bufonis), Tế tân (Asarum), Nam tinh không lông (Arisaema Consanguineum), được ứng dụng trong điều trị đau mạn tính tại Trung Quốc trong nhiều năm qua.

bệnh ung thư

Một nghiên cứu trên 1558 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ cho thấy so với xạ trị đơn độc, dùng Khổ sâm kết hợp với xạ trị giúp cải thiện chất lượng cuộc sống dựa trên thang điểm KPS (Karnofsky performance status), làm giảm có ý nghĩa các biến chứng của xạ trị bao gồm làm giảm biến cố viêm phổi cấp do tia xạ, viêm phổi do tia xạ sau 3 tháng, viêm thực quản do tia xạ, ức chế tủy xương do tia xạ…

Một nghiên cứu khác tiến hành với 1819 bệnh nhân cho thấy kết hợp thuốc YHCT với xạ trị làm giảm có ý nghĩa tần suất viêm phổi do tia xạ so với nhóm chứng, đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống khi so sánh thang điểm Karnofsky. Trong đó các bài thuốc thuộc nhóm dưỡng âm, dưỡng huyết, bổ khí thường được sử dụng nhất.

Tác dụng phụ ức chế tủy là một trong các tác dụng phụ thường gặp nhất của hoá trị ung thư, đặc biệt với các tác nhân alkylating, thuốc chống chuyển hoá, và platinum. Các biến chứng nặng có thể gặp bao gồm giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu gây xuất huyết, kết cục dẫn đến thất bại của hoá trị, thậm chí gây tử vong. Một nghiên cứu lâm sàng trên 330 bệnh nhân cho thấy bài thuốc Song hoàng thăng bạch thang hiệu quả và an toàn trong điều trị ức chế tuỷ do hoá trị.

Sử dụng YHCT là phương tiện chính nhằm điều trị vào nguyên nhân hoặc cơ chế bệnh sinh và kết hợp Tây y để giải quyết triệu chứng hoặc bệnh kèm theo, hoặc khi có diễn biến phức tạp.

Đối với loại bệnh như Viêm mũi dị ứng, với chẩn đoán “Viêm mũi dị ứng/ Cảm Phong hàn”. Trường hợp này có thể dùng Châm cứu, bấm huyệt và bài thuốc thang Ngọc bình phong tán kết hợp với Tân di tán hoặc Tiểu thanh long thang tuỳ thuộc vào cơ địa nhằm tác động lên cơ chế bệnh sinh và nguyên nhân gây bệnh, bởi bài thuốc Ngọc bình phong tán đã được nghiên cứu chứng minh tác dụng làm giảm IgE trên các bệnh nhân viêm mũi dị ứng. Kết hợp các bài thuốc Tân di tán, hoặc Tiểu thanh long thang làm giảm sự tương tác giữa tế bào nhiều chân và tế bào T CD4+ trên bệnh nhân hen phế quản và viêm mũi dị ứng.

Hay trong trường hợp phục hồi vận động sau đột quỵ, trong bệnh cảnh “Liệt 1/2 người trái/Tăng HA/ Khí huyết ứ trệ”. Có thể sử dụng Châm cứu phục hồi vận động và bài thuốc Bổ dương hoàng ngũ thang (Hoàng kỳ, Đương quy, Xuyên khung, Xích thược, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long…) nhằm bổ khí hoạt huyết thông kinh hoạt lạc, tăng cường cung cấp dinh dưỡng cho chi bị liệt, kết hợp thuốc hạ áp của YHHĐ nhằm duy trì sự ổn định và phòng tránh tái phát.

Trên đây là chỉ những ví dụ minh hoạ cho việc kết hợp Đông – Tây y. Thực tế sự kết hợp này khá đa dạng, đáp ứng cho tính cấp thiết từ cả giới chuyên môn và người bệnh.

Đông Tây y

Kết hợp Đông – Tây y là xu thế của thời đại

Môi trường sống, sự thay đổi bề mặt trái đất, sự phát triển xã hội… tác động không ngừng lên cơ thể người làm thay đổi đáng kể mô hình bệnh tật, cũng như gần một năm rưỡi vừa qua Covid 19 phát sinh gây đại dịch trên toàn cầu, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu chống dịch và tìm vaccine phòng bệnh, càng thấy rõ hơn sức đề kháng gắn liền với chất lượng sống và tuổi thọ con người. Chính vì thế, để đạt mục tiêu chăm sóc sức khoẻ người bệnh một cách tốt nhất, không gì hơn, từng bước khắc phục những hạn chế của hai nền y học, phát huy thế mạnh và bổ sung cho nhau của hai nền y học Đông – Tây.

Xu hướng hiện nay của các nước là kết hợp hai nền y học một cách toàn diện, chặt chẽ để đạt mục tiêu nâng cao sức khỏe, an toàn, hiệu quả, hiện đại, dễ tiếp cận trong khám chữa bệnh. Kết hợp hai nền y học chính là một bước nâng cao của quá trình kế thừa; Trong đó mỗi nền y học phát huy thế mạnh, chọn lọc giữ lại những phần tinh hoa, loại bỏ hay hạn chế những phần tác hại, lạc hậu, để xây dựng một nền y học thực sự vì con người.

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học

Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Tăng huyết áp - Có phải uống thuốc hạ huyết áp suốt đời không?

Theo khuyến cáo, phải uống thuốc hạ áp khi bị Tăng huyết áp (THA). THA nếu không tìm được nguyên nhân gọi là Bệnh THA nguyên phát, chiếm hơn 90% trường hợp. Cần phân biệt …

Trò chuyện cùng TTƯT, BS.CKII Đỗ Tân Khoa - Giám đốc BV Y học cổ truyền TP.HCM: Phấn đấu trở thành Bệnh viện "Thân thiện - Tận tâm - Hiệu quả"

1/ Trong 10 năm qua, Bệnh viện luôn thừa kế, duy trì và không ngừng phấn đấu, phát triển, thuốc tự sản xuất tại bệnh viện đạt chuẩn GMP-GSP-GLP, thực hiện kiểm định bảo đảm …

Châm cứu làm đẹp - Xu hướng thẩm mỹ mới

Châm cứu thẩm mỹ là một phương pháp không dùng thuốc đã có từ ngàn năm, nay nâng lên một bước khi kết hợp Y học cổ truyền và Y học hiện đại trong việc …

“Rượu thuốc” - Liệu có giúp cải thiện gì cho “chuyện ấy”?

“Chuyện ấy” thường được nhiều người nói nhỏ, không dám nói lớn. Dù nói nhỏ, nhưng đây là “chuyện không nhỏ” nếu không muốn nói là “chuyện lớn”. Vì “chuyện ấy” suy yếu sẽ ảnh …

Trà xanh - Nhiều công dụng hơn chúng ta vẫn nghĩ!

Trà vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người dân Trung Quốc đã biết dùng trà từ 2.500 năm trước Công nguyên, sau tới Nhật Bản và nhiều nước châu Á khác. Thật bất ngờ …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi