Kết hợp Đông – Tây y trong bệnh nhiễm trùng và truyền nhiễm

Trong bệnh truyền nhiễm, vai trò của thảo dược đã được sử dụng điều trị ôn bệnh hơn 200 năm, trước khi kháng sinh Tây y được khám phá. Hơn thế nữa, học thuyết này đã miêu tả tương đối về nguồn gốc và sự lây lan của bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh, cũng như với thuật ngữ Chính khí – Tà khí đã nhận ra vai trò quan trọng của hệ thống miễn dịch trong sự tương tác với tác nhân gây bệnh. Chính vì thế, các ứng dụng trong điều trị ôn bệnh của YHCT sẽ là nguồn tham khảo vô giá cho các nghiên cứu kết hợp Đông – Tây trong điều trị bệnh truyền nhiễm nói riêng và ngăn ngừa dịch bệnh.

Nói đến bệnh truyền nhiễm, Y học hiện đại (YHHĐ) đã có định nghĩa khá rõ ràng: bệnh truyền nhiễm còn gọi là bệnh lây, do các vi sinh vật như vi trùng, virus, vi nấm hay ký sinh trùng gây ra. Bệnh có khả năng lây lan trong cộng đồng và có thể trở thành vùng dịch như dịch Covid hiện nay, hay dịch tay chân miệng ở trẻ em…

Khi đã mắc bệnh truyền nhiễm, cơ thể người bệnh sẽ có quá trình tạo thành miễn dịch, gọi là đáp ứng miễn dịch. Tùy theo loại bệnh và cơ địa người mà miễn dịch được hình thành với mức độ, thời gian tồn tại miễn dịch và sự bảo vệ khác nhau. Với hiểu biết này, khoa học đã không ngừng phát triển các loại thuốc mới từ trúng đích (kháng sinh diệt khuẩn, kháng nấm diệt nấm…) đến bảo vệ cơ thể (chống viêm, giảm đau, vitamine, khoáng tố…). Bên cạnh đó, cũng phải thấy mặt tích cực của sự phát triển này là việc phát hiện bệnh tật, chẩn đoán sớm ngày càng tốt hơn, giúp tăng tuổi thọ bình quân đáng kể. Nếu ở thập niên 60 tuổi thọ bình quân là 50, thập niên 80 là 60; thì những năm đầu thế kỷ 21 nay đã là 75-76 tuổi.

Tuy nhiên, chất lượng sống vẫn còn là vấn đề lớn thách thức nền y học ở mỗi quốc gia. Trước các tác dụng phụ của thuốc, người ta tìm đến các giải pháp từ y học truyền thống vốn yên lặng suốt một thời gian dài bên cạnh sự phát triển quá nhanh qúa mạnh của nền YHHĐ. Xu hướng kết hợp Đông Tây y trong một số bệnh truyền nhiễm đã được nghiên cứu: từ việc khảo sát sử dụng một số dược liệu đã có nghiên cứu trước về tác dụng kháng sinh, đến các bài thuốc cổ phương đã qua ngàn năm trong điều trị loại bệnh được mô tả có biểu hiện như truyền nhiễm; đến phối hợp sớm thuốc y học cổ truyền (YHCT) với các phác đồ YHHĐ, đã ghi nhận những kết quả đáng quan tâm.

Đối với bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn

Kết hợp YHCT và YHHĐ giúp cải thiện hiệu quả điều trị các bệnh lý truyền nhiễm do vi khuẩn. Nghiên cứu cho thấy, khi kết hợp thuốc YHCT với kháng sinh sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị viêm phổi cộng đồng và giúp bệnh nhân hồi phục sớm, làm giảm tỉ lệ tử vong. Ví dụ như Xuyên tâm liên có thành phần hoạt chất chính là andrographolide sulfonate, khi kết hợp với piperacillin và sulbactam làm cải thiện có ý nghĩa hiệu quả lâm sàng trên viêm phổi ở người cao tuổi. Xiao-Yang Hu và cộng sự (2017) ghi nhận trong nhiễm trùng hô hấp cấp, Xuyên tâm liên cải thiện hiệu quả triệu chứng ho và đau họng khi so sánh với giả dược. Xuyên tâm liên (dùng đơn độc hoặc kết hợp) có tác dụng đáng kể trong việc cải thiện các triệu chứng nhiễm trùng hô hấp cấp khi so sánh với liệu pháp chăm sóc thông thường và thảo dược khác. Bằng chứng cũng cho thấy phối hợp Xuyên tâm liên giúp rút ngắn thời gian ho, đau họng khi so sánh với điều trị thường quy. Không có tác dụng ngoại ý nặng nào được báo cáo, và tác dụng ngoại ý nhẹ chủ yếu là trên đường tiêu hóa [10].

Viêm phổi là biến chứng thường gặp nhất gây tử vong ở bệnh nhân đột quỵ. So với điều trị triệu chứng đơn thuần, tỉ lệ phục hồi và hiệu quả của bài thuốc Thanh kim hóa đàm thang (thành phần gồm Hoàng cầm, Chi tử, Tri mẫu, Qua lâu nhân, Triết Bối mẫu, Mạch môn, Trần bì, Phục linh, Cát cánh, Tang bạch bì, Cam thảo) kết hợp với bài Tiểu thừa khí thang trong điều trị viêm phổi do biến chứng sau đột quỵ giúp cải thiện triệu chứng lâm sàng có ý nghĩa; đồng thời điểm APACHE2 giảm có ý nghĩa, các cytokine viêm như CRP, TNF-α, IL-6 cũng giảm.

Kết hợp YHCT và YHHĐ đặc biệt nổi bật trong điều trị bệnh lao, đặc biệt lao kháng thuốc. Một phân tích gộp cho thấy Bách hợp cố kim thang kết hợp với thuốc kháng lao Tây y nâng cao hiệu quả gấp 1,28 lần so với chỉ dùng thuốc kháng lao Tây y đơn độc, dựa theo đánh giá tổn thương phổi và kết quả xét nghiệm đàm. Điều trị theo lý luận YHCT của lao bao gồm điều hòa âm dương khí huyết của toàn thân, kiện tỳ khí, bổ hư, và trừ đàm thấp. Các thuốc này không chỉ cải thiện đáp ứng miễn dịch, giảm tổn thương phổi mà còn giảm tác dụng phụ của thuốc Tây y như nôn ói, tổn thương gan, thận, ngăn chặn hình thành dòng lao kháng thuốc.

Áp dụng nguyên tắc phù chính khu tà theo YHCT còn tạo hiệu quả điều trị nhiễm trùng kháng trị. Khi sử dụng kháng sinh phổ rộng trong thời gian dài sẽ gây mất cân bằng hệ vi sinh đường hô hấp và tiêu hóa, dẫn đến tình trạng kháng trị. Sự hình thành viêm phổi kháng trị phụ thuộc vào các yếu tố như cơ địa bệnh nhân, vi sinh vật và thuốc kháng sinh; trong đó yếu tố cơ thể người bệnh đóng vai trò quan trọng. Hầu hết các nhiễm trùng kháng trị do vi khuẩn đa kháng và nhiễm trùng đa tác nhân. Thường xảy ra ở người già do có kèm theo suy giảm miễn dịch và nhiều bệnh lý nền. Điều trị nhiễm trùng kháng trị bằng YHCT dựa trên chẩn đoán bệnh cảnh, thể tạng của bệnh nhân, và giai đoạn lâm sàng. Bệnh sinh trong nhiễm trùng nặng và kháng trị theo y học cổ truyền là do hư chứng của khí huyết âm dương với sự trỗi lên của tác nhân gây bệnh; do đó cần phải tập trung vào phù chính đồng thời khu tà.

Một nghiên cứu về điều trị viêm phổi bằng YHCT trên người cao tuổi ghi nhận tỉ lệ tử vong giảm rõ rệt, đặc biệt ở người trên 90 tuổi. Nghiên cứu của Li và cộng sự cho thấy YHCT hiệu quả 40% trong điều trị viêm phổi ở người trên 80 tuổi đã thất bại với điều trị kháng sinh. Điều này cho thấy đánh giá hư thực (phản ứng chính khí với tà khí của cơ thể bệnh nhân) là dấu hiệu quan trọng trong điều trị.

Đối với bệnh do virus

YHCT làm thuyên giảm nhanh chóng các triệu chứng lâm sàng do nhiễm virus với hiệu quả nổi bật là hạ sốt. Tuy nhiên, thời gian để acid nucleic của virus âm tính so với dùng thuốc kháng virus Tây y thì chậm hơn. Một vài nghiên cứu cho thấy các bài thuốc Ma hạnh thạch cam thang, Ngân kiều tán, Liên hoa thanh ôn có tác dụng làm giảm nhanh triệu chứng của bệnh nhân cúm và làm giảm thời gian bệnh. Đặc điểm của điều trị sốt cao do nhiễm virus là giảm thân nhiệt từ từ và mất ít mồ hôi mà không có hiện tượng dội ngược. Theo YHCT, cơ chế bệnh trung tâm của nhiễm virus thuộc về chứng khí phận và dinh phận, cần phải áp dụng pháp trị là thanh nhiệt khí phận và dinh phận bằng thuốc hạ và hãn. Thuốc phát hãn giúp làm giảm sốt bằng cách làm ra mồ hôi, trong khi thuốc tả hạ giúp hạ sốt bằng cách gây nhuận tràng.

Ma hoàng thang.

Shigeki Nabeshima và cộng sự (2012)[7] đã báo cáo tác dụng của Ma hoàng thang (Ma hoàng, Hạnh nhân, Quế chi, Cam thảo) trong điều trị bệnh nhân nhiễm cúm mùa. Nghiên cứu được thiết kế ngẫu nhiên, đối chứng với phác đồ sử dụng Oseltamivir và Zanamivir, bệnh nhân được xác định nhiễm cúm bằng bộ kit chẩn đoán nhanh. Kết quả cho thấy Ma hoàng thang làm giảm thời gian sốt có ý nghĩa so với Oseltamivir. Ngoài ra, các chỉ dấu sinh học như IFN-α, IL-6, IL-8, IL-10, TNF-α thì không có khác biệt giữa các nhóm. Trước đó, vào năm 2007, Tomohiro Kubo và Hidekazu Nishimura cũng báo cáo nghiên cứu của họ về tác dụng hạ sốt của Ma hoàng thang trên trẻ em nhiễm cúm. Kết quả ghi nhận thời gian sốt ở nhóm Ma hoàng thang và nhóm kết hợp Ma hoàng thang với Oseltamivir ngắn hơn có ý nghĩa so với nhóm chỉ dùng Oseltamivir [2]. Đến năm 2019, một phân tích gộp của nhóm nghiên cứu Tetsuhiro Yoshino và cộng sự [9] ghi nhận Ma hoàng thang kết hợp nhóm NAIs (neuraminidase inhibitors) hiệu quả hơn NAIs đơn độc trong việc giảm thời gian sốt. Không có tác dụng phụ nào được báo cáo trong cả hai nhóm thuốc.

Trong dịch SARS, YHCT kết hợp với corticosteroid trong giai đoạn sớm làm giảm tỷ lệ tử vong thông qua cơ chế giảm phảm ứng viêm quá mức do miễn dịch. Các nghiên cứu dược lý về thuốc YHCT cho thấy các thuốc nhóm bổ khí và khư tà tác dụng lên nhiều mục tiêu khác nhau tạo hiệu quả ức chế trực tiếp virus, giảm tổn thương do miễn dịch, và kiểm soát phản ứng viêm do virus gây ra. Các nghiên cứu tại Trung Quốc (điển hình là Yun Luo và cộng sự (2019)[6]) về việc kết hợp YHHĐ và YHCT (các bài thuốc thường sử dụng: Ngân kiều tán, Ma hạnh thạch cam thang, Cam lộ tiêu độc đan, Thanh dinh thang, Tam nhân thang) trong điều trị SARS cho thấy việc kết hợp điều trị giúp làm giảm tỷ lệ tử vong đáng kể. Khi so sánh với nhóm chỉ dùng YHHĐ tuy tỷ lệ tử vong khác nhau không có ý nghĩa, nhưng triệu chứng đau cơ khớp giảm có ý nghĩa ở nhóm kết hợp (P<0,05).

Các loại dược thảo có tác dụng kích thích hoạt động miễn dịch

Linh chi (Ganoderma lucidum) với thành phần chính là polysaccharide có hoạt tính thúc đẩy sự hoạt hóa và trưởng thành của tế bào nhiều chân. Nghiên cứu đã chứng minh linh chi làm tăng biểu hiện các thụ thể bề mặt của tế bào nhiều chân như CD80, CD86, CD83, CD40, CD54 và HLA-DR, tăng sản xuất IL-10, IL-12p70/40 và tăng khả năng kích thích tế bào T của tế bào nhiều chân.

Bổ cốt chi (Fructus psoraleae) và nha đảm tử (Brucea javanica) trong mô hình chuột nhiễm Pneumocystis carinii đã cho thấy khả năng làm tăng cường chức năng của tế bào giết tự nhiên chống lại nhiễm vi sinh vật.

Ginsenosides, thành phần của nhân sâm (Panax ginseng) được báo cáo là có khả năng làm tăng hoạt động miễn dịch của lympho T CD4+.

Bổ trung ích khí thang được chứng minh kích thích hệ thống miễn dịch niêm mạc đường hô hấp trên, gây tăng sản xuất các kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên ở niêm mạc hô hấp trên và hệ thống miễn dịch toàn thể.

Ngũ gia bì gai (Acanthopanax senticosus) có tác dụng bảo vệ trước tia xạ bằng cách kích thích sự tăng sinh và tự hồi phục của tế bào gốc tạo máu (là tiền thân của tất cả các tế bào máu bao gồm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu). Thập toàn đại bổ cũng cho thấy hiệu quả tăng tạo tế bào lympho ở người.

Nhân sâm dưỡng vinh thang được nghiên cứu cho thấy có tác dụng cải thiện sự sản xuất quá mức cytokine của Th1 và Th2 và duy trì hằng định nội môi của cytokine.

YHCT được chứng minh tác dụng chống tăng sinh và hoạt hóa apoptosis chống lại tế bào ung thư như ung thư phổi, ung thư gan, ung thư vú, cũng như khả năng ức chế sinh mạch và sự phát triển của ung thư bao gồm melanoma, glioma, leukemia, lymphoma, ung thư gan, ung thư vú. Điều đáng chú ý là YHCT cho thấy tác động kháng u bằng cách tăng cường chức năng miễn dịch. Bạch thược (Paeonia moutan) được xem là tác nhân mới trong điều trị ung thư gan (HCC), các nghiên cứu cho thấy paeonol trong bạch thược ức chế sự phát triển của khối u thông qua việc thúc đẩy tế bào ung thư đi vào chu trình apoptosis và kích thích sản xuất IL-2 và TNF-α.

Hoàng kỳ (Radix Astragali) có chức năng bảo vệ cơ quan miễn dịch (hạch lympho, lách, tuyến ức) bằng cách làm giảm các thay đổi bệnh lý trong cơ quan miễn dịch, giảm TNF-α và ức chế biểu hiện Bax và sự apoptosis của lách và tuyến ức. Phối hợp hoàng kỳ, nữ trinh tử (Fructus Ligustri Lucidi), cỏ mực (Eclipta prostrate) có thể làm tăng trọng lượng của các cơ quan miễn dịch như lách và tuyến ức.

Kết luận

Mặc dù cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để minh chứng cho vai trò của thuốc YHCT trong bệnh nhiễm trùng và truyền nhiễm, sự thật cho thấy loài người đã tồn tại đến ngày nay không chỉ nhờ vào Tây y. Sự phát triển của YHHĐ đã giúp nâng cao chất lượng sống; giúp chúng ta hiểu tường tận hơn về nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh; từ đó sản xuất ra nhiều sản phẩm cùng phương tiện điều trị tích cực và trúng đích. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò của YHCT. Cụ thể như trong bệnh truyền nhiễm, các thảo dược có vị đắng tính hàn được dùng điều trị ôn nhiệt bệnh; khảo sát dược lý YHHĐ ghi nhận chúng có hoạt tính kháng sinh và kháng viêm. Những thảo dược này đã được sử dụng điều trị ôn bệnh hơn 200 năm trước khi kháng sinh Tây y được khám phá. Hơn thế nữa, học thuyết ôn bệnh đã miêu tả tương đối về nguồn gốc và sự lây lan của bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh, cũng như với thuật ngữ Chính khí – Tà khí đã nhận ra vai trò quan trọng của hệ thống miễn dịch trong sự tương tác với tác nhân gây bệnh (Chính khí là sức khoẻ của cá nhân người bệnh là sức đề kháng của cơ thể và Tà khí là nguyên nhân gây bệnh. Sức khoẻ tốt – sức đề kháng mạnh thì phản ứng cơ thể sẽ mạnh mẽ với tác nhân xâm nhập; bằng ngược lại cơ thể sẽ phản ứng yếu ớt – hư nhược). Các ứng dụng trong điều trị ôn bệnh của YHCT sẽ là nguồn tham khảo vô giá cho các nghiên cứu kết hợp Đông – Tây trong điều trị bệnh truyền nhiễm nói riêng và ngăn ngừa dịch bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. He, Zhongping, et al. (2005), “Effects of severe acute respiratory syndrome (SARS) coronavirus infection on peripheral blood lymphocytes and their subsets”, International journal of infectious diseases. 9(6), pp. 323-330.
  2. Kubo, Tomohiro and Nishimura, Hidekazu (2007), “Antipyretic effect of Mao-to, a Japanese herbal medicine, for treatment of type A influenza infection in children”, Phytomedicine. 14(2-3), pp. 96-101.
  3. Leung, Ping-Chung (2007), “The efficacy of Chinese medicine for SARS: a review of Chinese publications after the crisis”, The American journal of Chinese medicine. 35(04), pp. 575-581.
  4. Li, Jiang-Hong, et al. (2016), “Efficacy and safety of traditional Chinese medicine for the treatment of influenza A (H1N1): A meta-analysis”, Journal of the Chinese Medical Association. 79(5), pp. 281-291.
  5. Liu, Jianping, et al. (2004), “Chinese herbal medicine for severe acute respiratory syndrome: a systematic review and meta-analysis”, Journal of Alternative & Complementary Medicine. 10(6), pp. 1041-1051.
  6. Luo, Yun, et al. (2019), “Application of Chinese medicine in acute and critical medical conditions”, The American journal of Chinese medicine. 47(06), pp. 1223-1235.
  7. Nabeshima, Shigeki, et al. (2012), “A randomized, controlled trial comparing traditional herbal medicine and neuraminidase inhibitors in the treatment of seasonal influenza”, Journal of Infection and Chemotherapy. 18(4), pp. 534-543.
  8. Yang, Yang, et al. (2020), “Traditional Chinese medicine in the treatment of patients infected with 2019-new coronavirus (SARS-CoV-2): a review and perspective”, International journal of biological sciences. 16(10), p. 1708.
  9. Yoshino, Tetsuhiro, et al. (2019), “The use of maoto (Ma-Huang-Tang), a traditional Japanese Kampo medicine, to alleviate flu symptoms: a systematic review and meta-analysis”, BMC complementary and alternative medicine. 19(1), p. 68.
  10. Hu, Xiao-Yang, et al. (2017), “Andrographis paniculata (Chuān Xīn Lián) for symptomatic relief of acute respiratory tract infections in adults and children: A systematic review and meta-analysis”, PloS one. 12(8), pp. e0181780-e0181780.

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học, Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

“Vaccine tự thân” vượt qua nguy hiểm mùa dịch Covid

Những ngày này Sài Gòn vắng lặng, người xe thưa thớt, đường phố buồn tênh, lòng người hiu quạnh, người ta gọi “Sài Gòn đang bệnh, Sài Gòn bao nhớ, Sài Gòn giống Tết… Thực …

Cảm cúm - Dưới góc nhìn của Đông Tây y kết hợp

Cảm cúm là một cách gọi theo dân gian. Theo Tây y, không có bệnh “Cảm cúm” mà chỉ có bệnh Cúm hoặc Cúm mùa. Bệnh cúm mùa tiến triển thường lành tính, nhưng cũng …

Nhiễm virus Herpes ở trẻ em

Nhiễm virus Herpes là bệnh thường gặp ở trẻ em. Biểu hiện bệnh đa dạng: từ trẻ sơ sinh đến trẻ lớn, đa cơ quan và dễ bị tái phát nhiều lần. Sang thương đặc …

Khi mắc Bệnh dại - Tử vong 100%

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 50.000 - 70.000 người tử vong do bệnh dại ở hơn 150 quốc gia, chủ yếu từ những nhóm dân cư nghèo hoặc …

Làn sóng Covid-19 mới tại Việt Nam- Những điều cần biết

Việt Nam đang đối mặt với làn sóng Covid-19 thứ 4 với nhiều sự thay đổi đáng kể. Hãy cùng Tạp Chí Sức Khỏe đi tìm những khác biệt trong đợt dịch lần này với …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi