Y học cổ truyền điều trị sau tai biến mạch máu não

Theo y học cổ truyền: những triệu chứng thường gặp trong tai biến mạch máu não như đột ngột té ngã, hôn mê, liệt nửa người, liệt mặt, hoặc có khi chỉ là một tình trạng hoa mắt, chóng mặt… Những biểu hiện nói trên được thấy trong: 

Đột ngột té ngã, hôn mê: Y học cổ truyền xếp vào chứng thiên phong, trúng phong.

Hoa mắt, chóng mặt: Y học cổ truyền xếp vào chứng huyễn vậng hay còn gọi là huyễn vựng.

Liệt nửa người, liệt mặt: Y học cổ truyền xếp vào chứng nuy.

Tê tay chân: Y học cổ truyền xếp vào chứng ma mộc (khí huyết tắc kinh lạc) có thể do ngoại tà hoặc đờm thấp. 

Chữ “động” thời “hại điện”!

Qua việc phân tích cơ chế bệnh sinh các chứng trạng thường gặp của Y học cổ truyền trong tai biến mạch máu não, có thể biện luận về nguyên nhân là cơ chế bệnh sinh theo Y học cổ truyền như sau:

Do ngoại nhân chủ yếu là phải hóa nhiệt và sinh phong.

Do thất tình (nội nhân) như giận, lo sợ gây tổn thương 3 tạng tỳ, can, thận.

Do mắc bệnh lâu ngày (nội thương), làm cơ thể suy yếu, thận âm và thận dương suy (thận âm suy, hư hỏa bốc lên; thận dương suy, chân dương nhiễu loạn ở trên).

Do yếu tố di truyền hoặc dị dạng bẩm sinh (tiên thiên bất túc).

Do ăn uống không đúng cách sinh đàm thấp làm tắc trở kinh lạc.

Do chấn thương gây huyết ứ tắc, kinh lạc không thông.

Do tập luyện không đúng cách, nhất là về thở: nín hơi đóng thanh quản lâu ngày nhẹ thì ảnh hưởng tâm thần như: nóng bức, di chuyển trong người ngày càng nhiều ( tẩu hỏa), tập thơi gian rối loạn cảm xúc, ngôn ngữ, lời nói … ( nhập ma). Nếu tập tổn thương cơ thể ảnh hưởng thể chất gây: yếu/liệt nữa người (bán thân bất toại).

TBMMN biểu hiện trên lâm sàng phong phú, dưới nhiều dạng vẻ khác nhau từ những triệu chứng không đặc hiệu như hoa mắt, chóng mặt, cảm giác tê ở một phần cơ thể cho đến hôn mê, liệt nửa người. Vì thế, việc mô tả toàn bộ các thể lâm sàng Y học cổ truyền của tai biến mạch máu não không thật sự dễ dàng. Thông thường, có thể thấy xuất hiện những thể lâm sàng sau đây.

Trong đợt tai biến mạch máu não

Trúng lạc (trúng phong ở lạc): Bệnh nhân đột ngột ghi nhận da tê dại kèm các chứng đầu váng, đau, hoa mắt. Triệu chứng này có thể thoáng qua rồi biến mất hoặc kéo dài.

 Trúng kinh (trúng phong kinh): Bệnh tại kinh mạch: người bệnh không mê man, tuy nhiên tình trạng ý thức thật sự cũng bị ảnh hưởng, có thể lơ mơ, li bì, bại liệt nửa người, chân tay tê dại, miệng nhiều đờm dãi, nói năng không trôi chảy, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền hoạt.

Trúng phong tạng phủ: Bệnh cảnh này có một đặc điểm chung là triệu chứng hôn mê và gồm 2 nhóm bệnh chính (tùy theo tình trạng hôn mê xuất hiện đột ngột hay từ từ).

Trúng phủ (trúng phong ở phủ): Bệnh nhân mê man, xuất hiện các chứng bại liệt nửa người, miệng mắt méo lệch, nói năng ú ớ hoặc đàm lấp thanh khiếu, nói không được, đại tiểu tiện không nín được hoặc bí kết.

Trúng tạng (trúng phong ở tạng): bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh. Trong nhóm bệnh này lại chia ra làm 2 nhóm nhỏ.

Chứng bế:

Dương bế: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, hàm răng cắn chặt, tay nắm chặt, mặt đỏ, thở ồn ào, tiếng thở khò khè, lưỡi rút lại, đại tiểu tiện đều bế, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch huyền hoạt sác. 

Âm bế: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, răng cắn chặt, tay nắm chặt, mặt trắng nhợt, môi bầm, tiếng thở khò khè, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm hoạt.

Chứng thoát: Bệnh nhân đột nhiên ngã ra mê man bất tỉnh, hôn mê rất sâu, mắt nhắm, mồm há, hô hấp yếu, chân tay lạnh, 2 bàn tay xoè ra, đái són, vã mồ hôi đọng từng giọt hoặc nhờn như dầu, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng trơn, mạch vi tuyệt.

Điều trị cấp cứu và chăm sóc tích cực bệnh nhân bằng phương pháp và phương tiện trị liệu YHHĐ phù hợp với tình trạng bệnh nhân và nguyên nhân gây bệnh. Trong giai đoạn này, vai trò của những phương pháp điều trị YHCT ít quan trọng.  Phương pháp dùng thuốc và không dùng thuốc trong giai đoạn này có thể được chỉ định phối hợp với YHHĐ trong trường hợp trúng phong kinh lạc bệnh nhân không hôn mê.  Theo YHCT, trong giai đoạn cấp tính này biện pháp điều trị quan trọng là “điều trị ngọn (triệu chứng) mà không chú ý đến gốc bệnh (nguyên nhân)”.

Bất kỳ nguyên nhân nào cũng đều đưa đến tình trạng “phong động”, nên cách điều trị chủ yếu chỉ là bình Can tức phong. Những bài thuốc được sử dụng:

Bài Thiên ma câu đằng ẩm:  Thiên ma 8g, Câu đằng 12g, Hoàng cầm 10g, Chi tử 12g, Tang ký sinh 12g, Hà thủ ô 10g, Đỗ trọng 10g, Phục linh 12g, Ích mẫu 12g, Thạch quyết minh 20g,  Ngưu tất 12g .

Bài Linh dương câu đằng thang:  Linh dương giác 4g, Trúc nhự 20g, Câu đằng 12g, Sinh địa  20g, Bạch thược 12g, Tang diệp 8g, Phục thần  2g, Cúc hoa 12g, Bối mẫu 8g, Cam thảo 4g.

Giai đoạn sau TBMMN:  Ở giai đoạn sau TBMMN do bị bệnh và ảnh hưởng nhiều đến Can và Thận nên triệu chứng YHCT trong giai đoạn này chủ yếu gồm Cân nuy, Cốt nuy, Kiện vong. Những bệnh cảnh lâm sàng YHCT thường xuất hiện là:

Dùng thuốc:

Can Thận âm hư (chiếm đa số các trường hợp): Sắc mặt xạm, mặt má thường ửng hồng, răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại, đau nơi eo lưng, tiểu đêm, táo bón, ngủ kém, than nóng trong người, người dễ bực dọc, bứt rứt, lưỡi đỏ bệu, mạch trầm sác vô lực.  Pháp trị: tư âm ghìm dương, tư bổ can thận. Những bài thuốc:

Bài thuốc hạ áp (xuất xứ 30 công thức thuốc): Thục địa 20g,  Ngưu tất 10g, Rễ nhàu 20g,  Trạch tả 10g, Mã đề 20g, Táo nhân 10g, Hoa hoè 10g.

Bài thuốc Lục vị địa hoàng hoàn gia quy thược: Thục địa  32g, Hoài sơn 16g, Sơn thù  8g,  Đơn bì 12g, Phục linh 12g, Trạch tả  6g, Đương quy 12g, Bạch thược 8g. Bài này thường được sử dụng khi tăng huyết áp có kèm triệu chứng đau ngực, đau vùng tim.

Bài thuốc bổ Can Thn: Hà thủ ô 10g, Thục địa 15g, Hoài sơn 15g, Đương quy 12g, Trạch tả 12g, Sài hồ 10g, Thảo quyết minh 10g.

Thận âm dương lưỡng hư: Sắc mặt tái xanh hoặc đen xạm, răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại, đau nơi eo lưng, tiểu đêm, ngủ kém, không khát, ít uống nước, sợ lạnh, lưỡi nhợt bệu, mạch trầm nhược. Pháp trị: ôn bổ Thận dương. Những bài thuốc:

Bài thuốc Thận khí hoàn: Bạch phục linh 120g, Thục địa 320g, Sơn thù 160g, Đơn bì  120g,  Quế chi 40g,  Trạch tả 120g, Phụ tử 40g, Sơn dược 160g. Tán bột, ngày uống 8-12g.

Bài Hữu quy ẩm: Cam thảo 4g, Đỗ trọng 12g, Hoài sơn 16g, Kỷ tử 8g, Nhân sâm 8g,  Nhục quế 4g, Phụ tử 2g, Thù du 8g, Thục địa 32g.

Đờm thấp (bệnh nhân béo bệu): Người béo, thừa cân, lưỡi dày, to.  Bệnh nhân thường ít than phiền về triệu chứng đau đầu nếu có, thường là cảm giác nặng đầu nhưng dễ than phiền về tê nặng các chi. Mạch hoạt. Pháp trị: Trừ đờm, thông lạc.

Bài thuốc sử dụng: dùng bài thuốc Nhị trần thang gia vị:  Bạch truật 40g, Cam thảo 4g, Phục linh 12g, Bán hạ 12g, Nhân sâm 4g, Trần bì  4g.

Giai đoạn sau TBMMN có thể để lại di chứng của TBMMN.

Trong giai đoạn này, đông y gọi là “ Thiên khô”, việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân bao gồm 2 mục tiêu:  Phục hồi di chứng vận động và tâm thần

Điều trị bằng thuốc: Pháp trị: bổ khí, hoạt huyết, khử ứ, thông lạc. Bài thuốc sử dụng: dùng bài Bổ dương hoàn ngũ thang (gồm: Hoàng kỳ 40g, Hồng hoa 7g, Đào nhân 6g, Xuyên khung 7g, Địa long 7g, Xích thược 6g, Đương quy 8g).

Không dúng thuốc:

Châm cứu: Châm cứu ngay sau khi có chỉ định và tích cực trong điều trị

Phương pháp đầu châm vùng vận động (nếu chỉ có liệt) và vùng cảm giác (nếu có kèm rối loạn cảm giác) bên đối diện, châm nghiêng kim (300), vê kim liên tục trong 1 – 2 phút, lưu kim 5 – 10 phút.  Thông thường châm 1 lần/ngày, châm 10 ngày liên tục thành 1 liệu trình, nghỉ 3 – 5 ngày có thể bắt đầu liệu trình thứ 2. Phương pháp này thường được sử dụng sớm trong khoảng thời gian 6 tháng kể từ khi bị tai biến.

Phương pháp thể châm: Thường sử dụng các huyệt trên kinh dương minh của tay (Đại trường) và chân (Vị) bên liệt vơi các huyệt: Kiên ngung, Tý nhu, Khúc trì, Thủ tam lý, Dương khê, Hợp cốc, Lương khâu, Phong long, Giải khê,… phối hợp với các huyệt kinh điển phục hồi liệt như Dương lăng tuyền, thay đổi huyệt mỗi ngày. Hoặc chọn huyệt theo phương pháp châm cứu cải tiến. Đối với bệnh nhân rối loạn chức năng nuốt, nói đớ sau đột quỵ, châm thêm các huyệt: Ngoại kim tân, Ngoại ngọc dịch, Thiên đột, Liêm tuyền,…

Cần chú ý sử dụng dòng điện tốt nhất là dòng điện một chiều đều và thông điện thích hợp. Thời gian của mỗi lần điều trị cần dựa vào sự tiếp thu kích thích của từng người bệnh, trong từng bệnh, từng lúc, đối với từng loại dòng điện mà quyết định. Nói chung cần theo dõi, đánh giá tình trạng bệnh nhân sau khi châm. Trung bình ngày châm một lần hay cách ngày châm một lần: từ 10 đến 15 lần điện châm là một liệu trình, nghỉ độ 10 đến 15 ngày rồi tiếp tục tùy theo yêu cầu chữa bệnh.

Xoa bóp bấm huyệt: 60 phút ngày 1-2 lần. Xoa bóp bấm huyệt ngay sau khi có chỉ định và tích cực trong điều trị để cải thiện di chứng.

Xoa bóp bấm huyệt vùng đầu: 10p. xoa bóp: Day, Chải, Gõ, Vỗ, Bóp, Rung + Bấm huyệt: Bách hội, Tứ thần thông, Suất cốc, Đầu duy, an miên,…

Xoa bóp bấm huyệt mặt: ½ mặt bên liệt. chủ yếu Xoa bóp tác động nhóm cơ chi phối cảm xúc nửa mặt bên liệt: Cơ bụng trán, Cơ cau mày, Cơ thái dương, Cơ vòng mắt, Cơ nâng môi trên, Cơ gò má, Cơ vòng miệng, Cơ cắn, Cơ bám da cổ, Cơ nâng hạ mũi. ( nếu liệt VII ngoại bên) và ¼ mặt dưới bên liệt: Cơ nâng môi trên, Cơ gò má, Cơ vòng miệng, Cơ cắn, Cơ bám da cổ, Cơ nâng hạ mũi ( nếu liệt VII TW): 10p + Bâm huyệt: Dương bạch, Ấn đường, Ngư yêu, Tinh minh, Thái dương, Nghinh hương, Quyền liêu, Giáp xa, Hạ quan, Địa thương, Ế phong…

Xoa bóp bấm huyệt cổ gáy bên liệt: 10p. Xoa bóp vùng cổ gáy + Vận động cột sống cổ (quat, nghiên, ngữa, tổng hợp ) + Bấm huyệt: A thị huyệt, Đại chuỳ, Kiên tỉnh, Phong trì…

Xoa bóp bấm huyệt lưng bên liệt.10p: Xoa bóp vùng lưng + Vận động khớp lưng: Vặn cột sống, Ưỡn cột sống..+ Bấm huyệt: A thị huyệt, Đại trữ, Tâm du, Cách du, Can du, Thận du, Mệnh môn, Đại trường du

Xoa bóp bấm huyệt và vận đông khớp tay bên liệt theo hướng “Tay duỗi”: 10p: Xoa bóp vùng chi trên + Vận động khớp Vai, Khủy, Cổ, Bàn, Ngón tay + Bấm huyệt vùng chi trên: Kiên ngung, Tý nhu, Khúc trì, Thủ tam lý, Dương khê, Hợp cốc.

Xoa bóp bấm huyệt và vận đông khớp chân bên liệt theo hướng “ Chân co”: 10p. Xoa bóp chi dưới + Vận động khớp Háng, Gối, Cổ chân, Bàn, Ngón chân + Bấm huyệt chi dưới: Phong thị, Huyết hải, Dương lăng tuyền, Túc tam lý, Phong long, Giải khê…

Tập luyện: yoga- khí công: Yoga khí công tập theo từng bước cải thiện.

Luyện tâm thần:

Thư giãn: Nằm ngửa. gồm 3 bước:

Bước 1: Ức chế ngũ quan (che mắt, thoáng mát, yên tĩnh..)

Bước 2: Tự nhủ cho cơ mềm ra, giãn ra; Từng nhóm cơ, từ trên mặt xuống dần đến ngón chân, một cách từ từ chắc chắn. Toàn thân nặng xuống ấm lên.

Bước 3: Tập trung ý chí theo dõi hơi thở ra vào qua mũi 10 lần; thở thật êm, nhẹ, đều, nông.

Thiền: quán tưởng hạnh phúc, bệnh tật sẽ qua, cuộc sống trở lại bình thường

Thái độ tâm thần trong cuộc sống: tinh thần tích cực, làm chủ cảm xúc, lạc quan yêu đời, bệnh cảnh cải thiện

Luyện thể chất: ( Vận động)

Thở 4 thời có kê mông và giơ chân:

Chuẩn bị: Nằm ngửa thẳng, kê một gối ở mông, cao khoảng 5-8 cm vừa sức, tay trái để trên bụng, tay phải để trên ngực; Nhắm mắt, chú ý vào việc tập thở.

Động tác:

Thời 1: Hít vào tối đa, ngực nở bụng phình và căng (4”- 6”);  (Hít ngực bụng nở).

Thời 2: Giữ hơi, mở thanh quản bằng cách cố gắng hít thêm, lồng ngực vẫn giữ nguyên ở tình trạng nở tối đa, bụng vẫn phình căng cứng, đồng thời giơ một chân giao động qua lại 4 (hoặc 6) cái, rồi hạ chân. (4”-6”); (Giữ hơi hít thêm).

Thời 3: Thở ra thoải mái tự nhiên, để lồng ngực và bụng tự nhiên hạ xuống, không kềm không thúc.  (4”-6”) (Thở không kềm thúc).

Thời 4: Thư giãn chân tay mềm giãn. (4”-6”); (Nghỉ nặng ấm thân) chuẩn bị trở lại thời một, hít vào.

Mỗi lần tập mười hơi thở. Một ngày tập một đến hai lần. Để tập 4 thời bằng nhau người tập nhẩm công thức thực hành 4 nhịp. (Hít ngực bụng nở, giữ hơi hít thêm, thở không kìm thúc, nghỉ nặng ấm thân …). Để theo dõi đủ 10-20 hơi thở: dùng cách duỗi (và/hoặc co) lần lượt mười ngón tay. Chú ý hít vào thở ra bằng mũi.

Ưỡn cổ: Hai tay để xuôi theo thân. Lấy điểm tựa ở xương chẩm và mông. Ưỡn cổ và lưng trên hổng giường đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi, dao động lưng trên qua lại từ 2-6 cái; thở ra triệt để có ép bụng. Nếu không đủ sức thì không làm dao động. Làm như vậy từ 5-10 hơi thở, không hạ vai lưng xuống giường. Chừng nào xong động tác mới hạ lưng xuống nghỉ.

Ưỡn mông: Lấy điểm tựa ở lưng trên và 2 gót chân. Ưỡn mông làm cho thắt lưng, mông và chân đều hổng giường, đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động mông qua lại, mỗi lần dao động cố gắng hít vô thêm, dao động 2-6 cái; thở ra và ép bụng thật mạnh, đuổi hơi ra triệt để. Thở và dao động; Tập như thế từ 5-10 hơi thở.

Xem xa xem gần: Ngồi hoa sen. Ngón tay của hai bàn tay đan vào nhau và đưa lên quá đầu sao cho lòng bàn tay hướng lên, đầu bật ra sau, mắt nhìn lên bàn tay ở 1 điểm cố định của một ngón tay để thấy rõ từng nét. Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động tay, đầu thân qua lại từ 2-6 cái, mắt vẫn nhìn theo điểm cố định, thở ra triệt để, đồng thời đưa tay lại gần mặt độ 5cm mà vẫn cố nhìn rõ điểm cố định. Làm 35 hơi thở..

Bắt chéo tay sau lưng: Ngồi hoa sen. Một tay đưa ra sau lưng từ dưới lên, tay kia từ trên xuống và cố gắng bắt chéo nhau ở giữa lưng. Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động qua lại từ 2-6 cái, thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 1-3 hơi thở, xong đổi tay bắt chéo bên kia cũng làm từ 1-3 hơi thở.

Xuống tấn lắc thân: Xuống tấn là hai chân để song song với nhau hoặc bàn chân nghiên một chút như hình chữ nhân và cách xa nhau bằng khoảng cách hai vai hay lớn hơn một chút, gối hạ xuống nhiều hay ít tùy sức của mình (yếu thì hạ ít, mạnh thì hạ nhiều), hai tay đan chéo vào nhau và lật bàn tay ra ngoài, đưa tay lên trời, đầu bật ra sau và ngó theo tay.

Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động, thân nghiên qua bên này thì tay nghiên qua bên kia để giữ quân bình, nghiên như vậy 2-6 cái; để tay xuống thở ra triệt để. Làm động tác trên 3-5 hơi thở.

Cầm tạ. Hai chân đứng chữ nhân. Nắm chặt hai quả tạ trong hai tay, nặng vừa sức, khoảng 1-1,5kg mỗi quả ( hoặc quả tạ tưởng tượng). Đưa hai tay thẳng lên trên, hít vô tối đa; giữ hơi, dao động trước sau từ 2-6 cái; hạ hai tay xuống và đưa ra phía sau, càng ra sau càng cao càng tốt, đồng thời thở ra triệt để, có ép bụng thật mạnh, càng cố gắng đưa tay ra phía sau thì ép bụng càng mạnh, giữ tư thế ép bụng triệt để 2-3 giây. Làm động tác như vậy 3-5 hơi thở.

Ăn uống ngủ nghỉ hợp lý:

Với “ khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái đó là sức khỏe” Y học cổ truyền chú ý sức khỏe Tâm thể ( tâm hồn và thể xác), phải chú ý tinh thần lạc quan, tích cực, làm chủ cảm xúc bên cạnh đó chăm lo tập luyện cải thiện và phục hồi sau tai biến vì xu hướng liệt nữa người sau đột quỵ là tay co, chân duỗi nên quá trình tập luyện dùng thuốc và không dùng thuốc ngoài khí huyết lưu thông còn chú ý tập tay duỗi, chân co, dinh dưởng hợp lý để hướng người bệnh về gần bình thường hay bình thường,  nâng cao chất lượng cuộc sông.

BS. CK2. Huỳnh Tấn Vũ

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Diếp cá , Tía tô – Hai cây thuốc nam đặc trị Covid-19 và giải pháp khống chế đại dịch

Trước diễn biến tình hình đại dịch, “Làm sao để giảm thiểu số người tử vong bằng mọi phương tiện, nguồn lực” là chỉ đạo của chính phủ và cũng là mong mỏi của người …

Suy nghĩ về vai trò của thuốc Đông Y với SARS-CoV-2

Khi SARS-CoV-2 bùng phát trở lại khá mạnh ở nước ta và một số nơi trên thế giới, người lạc quan nhất cũng phải suy nghĩ đến tương lai và giai đoạn hậu Covid-19. Khi …

Tăng huyết áp - Có phải uống thuốc hạ huyết áp suốt đời không?

Theo khuyến cáo, phải uống thuốc hạ áp khi bị Tăng huyết áp (THA). THA nếu không tìm được nguyên nhân gọi là Bệnh THA nguyên phát, chiếm hơn 90% trường hợp. Cần phân biệt …

Kết hợp Đông- Tây y - Xu hướng của thời đại

Những năm đầu của thế kỷ 21, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã vẽ được bản đồ có trên 150 quốc gia - vùng lãnh thổ trên toàn cầu sử dụng Y học …

Trò chuyện cùng TTƯT, BS.CKII Đỗ Tân Khoa - Giám đốc BV Y học cổ truyền TP.HCM: Phấn đấu trở thành Bệnh viện "Thân thiện - Tận tâm - Hiệu quả"

1/ Trong 10 năm qua, Bệnh viện luôn thừa kế, duy trì và không ngừng phấn đấu, phát triển, thuốc tự sản xuất tại bệnh viện đạt chuẩn GMP-GSP-GLP, thực hiện kiểm định bảo đảm …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi