Xử lý đúng ban đầu trong những trường hợp chấn thương

Gần 10% tổng số ca tử vong trên thế giới là do chấn thương. Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người từ 1-50 tuổi và làm mất đi số năm sống đáng kể. Việt Nam là một trong số các nước có tỉ lệ tử vong do tai nạn thương tích cao trên thế giới. Nâng cao chất lượng sơ cấp cứu được xác định là giải pháp quan trọng, góp phần giảm thiệt hại về người trong các vụ tai nạn giao thông.

 

Tại Hoa Kỳ, theo Ngân hàng Dữ liệu Chấn thương Quốc gia (The National Trauma Data Bank), té ngã là nguyên nhân hàng đầu gây ra chấn thương, sau đó là va chạm xe cơ giới. Chấn thương gây ra do tai nạn giao thông được cho là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tám trên toàn thế giới (xấp xỉ 1,24 triệu người chết mỗi năm do tai nạn giao thông trên toàn cầu), gây ra hậu quả tương đương với hậu quả của các bệnh truyền nhiễm như sốt rét (WHO, 2013). Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm tại Việt Nam, tai nạn giao thông là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tư, làm 21.000 người chết trong năm 2012 (WHO, 2015).

Thống kê của Bộ Y tế nước ta năm 2018, cả nước có 1.226.704 trường hợp mắc tai nạn thương tích, trong đó có 9.745 trường hợp tử vong, chiếm tỉ lệ 0,73% so với tổng số mắc tai nạn thương tích. Tử vong do tai nạn giao thông cũng là nguyên nhân hàng đầu, chiếm 47,91%, tiếp theo là đuối nước 12,31%, tự tử 11,45%, tai nạn lao động 6,81%.

Chấn thương là một cấp cứu nội ngoại khoa. Tử vong có thể do tổn thương trực tiếp hoặc các biến chứng, vì vậy trong các trường hợp chấn thương ngoài việc nhanh chóng phát hiện các dấu hiệu nguy kịch còn phải thực hiện việc xử trí cấp cứu ngay. Nạn nhân cần được thăm khám toàn diện và có hệ thống, đặc biệt là trẻ em, để có hướng xử trí đúng tiếp theo.

Các thời điểm tử vong trong chấn thương

Tử vong do chấn thương thường xảy ra ở 3 thời điểm

  • Cao điểm thứ nhất là trong vòng vài giây đến vài phút sau chấn thương ngay tại hiện trường: có khoảng 50% tử vong ở cao điểm này, thường là tử vong do tổn thương não nặng, tổn thương tủy nặng, vỡ tim, vỡ động mạch chủ hoặc mạch máu lớn.
  • Cao điểm thứ hai là trong vòng vài phút đến vài giờ sau chấn thương: khoảng 30% tử vong ở cao điểm này, thường tử vong là do sốc mất máu từ máu tụ trong sọ, tràn máu/tràn khí màng phổi, vỡ tạng đặc trong khoang bụng, vỡ xương chậu hoặc các tổn thương gây mất máu khác.
  • Cao điểm thứ ba là nhiều ngày tới nhiều tuần sau: có khoảng 20% tử vong ở cao điểm này, thường là do nhiễm khuẩn và suy đa tạng. Việc phát hiện và xử trí sớm các thương tổn sẽ giúp giảm tử vong ở giai đoạn này.

Đa chấn thương và các nguyên tắc cần lưu ý khi xử trí ban đầu

Một cách cổ điển, đa chấn thương là khi một bệnh nhân chấn thương với hai thương tổn hoặc nhiều hơn, trong đó ít nhất có một thương tổn đe dọa tính mạng. Định nghĩa này có lẽ chính xác nhưng đôi khi không thích ứng với xử lý ban đầu bởi lẽ một bệnh nhân đa chấn thương lúc ban đầu các thương tổn đe dọa tính mạng hay chức năng đôi khi không biểu hiện rõ ràng mà mức độ nặng được suy ra từ cơ chế chấn thương.

Ví dụ: một người nhảy qua cửa sổ từ tầng 3 mặc dù có thể không có biểu hiện thương tổn bên ngoài nhưng khả năng rất cao có nhiều thương tổn nghiêm trọng bên trong như gãy cột sống, dập tủy, gãy xương chậu, vỡ các tạng trong bụng và ngực… do đó phải xem như là một bệnh nhân đa chấn thương cho đến khi có chứng cớ ngược lại. Trái lại, có những nạn nhân bị đa vết thương do va quẹt với biểu hiện bên ngoài rầm rộ và ồn ào như chảy máu và đau đớn… nhưng thực chất không nghiêm trọng gì đến tính mạng.

Việc xử trí ban đầu của bệnh nhân đa chấn thương dựa trên vài nguyên tắc không nhất thiết rõ ràng. Những ưu tiên đôi khi rất khác đối với những bệnh ít khẩn cấp khác. Những đặc điểm này có thể được tóm tắt vào vài yếu tố quan trọng như sau:

  • Nếu có nhiều nạn nhân cùng lúc, phải dành ưu tiên xử trí cho những nạn nhân cần thiết nhất. Đôi khi chúng ta có thể buộc phải đưa ra những lựa chọn rất khó khăn, đặc biệt là khi phải từ bỏ một nạn nhân bị thương tổn quá nặng ít có khả năng sống sót.
  • Đối với mọi bệnh nhân, phải ưu tiên điều trị các thương tổn/rối loạn ở các cơ quan sinh tồn.

Ví dụ: một sai lầm là tập trung sự chú ý vào một chảy máu không đe dọa đến tính mạng của bệnh nhân, trong khi các tổn thương gây tắc nghẽn của đường thở trên lại không được khai thông tốt.

  • Một bệnh sử hoàn chỉnh đôi khi ít quan trọng hơn là một hồi sức ban đầu. Không nên bỏ bệnh nhân để cố thu thập các thông tin chính xác về những gì đã xảy ra, lúc thích đáng để làm điều đó phải được tính toán và chọn lựa phù hợp.
  • Đôi khi phải điều trị trước khi có một chẩn đoán chắc chắn.

Ví dụ: khi nghi ngờ một tràn khí màng phổi áp lực, có thể cần thiết phải thực hiện ngay chọc dẫn lưu ngực giải áp mà không phải chờ đợi chụp phim X-quang ngực để xác định chẩn đoán.

  • Sự ổn định tim mạch đôi khi không thể thực hiện được: là một sai lầm khi cố ra sức tìm cách ổn định tình trạng huyết động của nạn nhân mà không đưa vào phòng mổ để làm ngừng sự chảy máu.
  • Sự hồi sức không nhất thiết nhằm tái lập các tham số bình thường. Đặc biệt một vài mức độ hạ huyết áp phải được chấp nhận trong trường hợp xuất huyết không cầm được (nếu không có chấn thương sọ nặng).

Chấn thương cột sống cổ có nguy hiểm không?

Một chấn thương cột sống cổ nếu bị bỏ sót hoặc xử trí không đúng có thể làm di lệch ổ gãy và chèn ép vào tủy sống gây liệt vĩnh viễn hoặc các biến chứng nghiêm trọng khác.

Cần nghi ngờ chấn thương cột sống cổ khi:

  • Chấn thương đầu hoặc cổ.
  • Mất ý thức sau chấn thương.
  • Đau cổ.
  • Có triệu chứng thần kinh tương ứng với tổn thương tuỷ cổ: thở bụng, các chi trên gấp, mất phản xạ não, rối loạn cơ vòng, cương đau dương vật…
  • Chấn thương trong hoàn cảnh: đâm xe, ngạt nước, say rượu, va chạm khi chơi thể thao…

Nếu nghi ngờ nạn nhân bị chấn thương cột sống cổ nhưng vẫn tỉnh táo, khuyên nạn nhân nằm yên hoàn toàn. Nẹp cột sống bằng vật liệu có sẵn trong nhà như túi cát, vật nặng, khăn vải cuộn chặt để cố định hai bên cột sống cổ, lưng; dùng băng keo hoặc dây cột lại. Lưu ý, khi nẹp cổ, nẹp phải tỳ vào xương đòn, khối cơ vai, đầu trên tỳ vào xương hàm dưới ở hai bên và chẩm ở mặt sau.

Những điều không nên làm nếu nghi ngờ nạn nhân bị chấn thương cột sống cổ:

  • Không đặt nạn nhân nằm sấp.
  • Không xốc, vác, cõng nạn nhân.
  • Không chở nạn nhân bằng xe đạp, xe máy, taxi.
  • Không khiêng, di chuyển nạn nhân bằng ghế tựa thấp, võng, hoặc kê gối dưới đầu khiến cổ gập.

Các bước xử trí ban đầu bệnh nhân chấn thương

Mục đích của cấp cứu ban đầu bệnh nhân chấn thương là nhằm ngăn ngừa tử vong trong giai đoạn cao điểm thứ 2. Mục tiêu hàng đầu là ổn định sinh hiệu đặc biệt là thông khí và tưới máu theo thứ tự ưu tiên, sau đó là khảo sát đầy đủ các tổn thương và điều trị phù hợp. Một cách tối ưu thì bệnh nhân chấn thương nặng cần phải được đánh giá và điều trị một cách nhanh chóng và theo trình tự. Hội Phẫu thuật Hoa kỳ (American College of Surgeons) đã xây dựng một cách tiếp cận hệ thống đối với bệnh nhân chấn thương (Advanced Trauma Life Support – ATLS). Theo những khuyến nghị của ATLS, nhiều giai đoạn kế tiếp nhau phải được thực hiện khi xử trí một bệnh nhân chấn thương:

  • Một cái nhìn bao quát nhanh (quick look trong 5 giây).
  • Đánh giá sơ cấp hay Bilan sơ cấp (primary survey – đánh giá nhanh lần đầu tiên).
  • Đánh giá thứ cấp hay Bilan thứ cấp (secondary survey – đánh giá lần thứ hai chi tiết hơn).
  • Bilan bổ sung hình ảnh.
  • Chuyển (phòng mổ, đơn vị điều trị tăng cường…).
  • Đối với các trường hợp đa chấn thương, sự thành công trong điều trị căn cứ trên một sự quản lý hiệu quả thời gian trôi qua. Việc xử trí bệnh nhân đa chấn thương cũng cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa đồng thời. Cần có các quy trình phản ứng nhanh phối hợp đa chuyên khoa như báo động đỏ… và nên xác lập những ưu tiên điều trị ở các bệnh nhân đa chấn thương bằng cách thực hiện một khám nhanh, một bilan sơ cấp, một bilan thứ cấp và một sự sử dụng đúng đắn những kỹ thuật chẩn đoán và điều trị hồi sức để làm giảm nguy cơ tử vong hoặc tàn tật.

1. Cái nhìn bao quát nhanh

Trong những giây đầu sau khi bệnh nhân đến phòng cấp cứu, thường nhất là khi ta chuyển bệnh nhân từ băng ca của xe cứu thương lên băng ca của phòng cấp cứu, một cái nhìn bao quát nhanh nạn nhân cần được thực hiện để có ý niệm chung về tình trạng người bệnh. Chỉ một thầy thuốc đảm trách cái nhìn bao quát này, thường là trưởng nhóm cấp cứu (trauma leader hay team leader), trong khi những thành viên khác phụ trách bệnh nhân và thao tác bệnh nhân một cách thận trọng. Những thủ thuật ban đầu dĩ nhiên sẽ tùy thuộc vào tình trạng của bệnh nhân và những thao tác hồi sức đã được thực hiện bởi tuyến trước. Trong vài giây (quick look trong 5 giây), một bức tranh chung sơ bộ được ghi nhận cũng như sự phát hiện rõ ràng một tình huống gây nguy hiểm tính mạng. Điều đó được thực hiện dễ dàng bằng cách nhìn nạn nhân, đồng thời với hỏi bệnh nhân và ấn chẩn các chi. Đây là giai đoạn quan sát chứ chưa phải can thiệp.

Những điều cần đánh giá trong cái nhìn bao quát nhanh:

  • Bệnh nhân tỉnh hay bất tỉnh?
  • Các đường dẫn khí thông suốt hay bị tắc cần phải can thiệp tức thời?
  • Sự thông khí và oxy hóa máu đủ hay không?
  • Sự hiện diện của những dấu hiệu xuất huyết ngoài ồ ạt hay choáng giảm thể tích nghiêm trọng?
  • Sự hiện diện của những biến dạng quan trọng ở đầu, cổ, thân, các chi?
  • Xem màu sắc của da cũng như nhiệt độ đồng thời đánh giá mạch ngoại biên.

Tùy theo những kết quả của quick look này, team leader có thể yêu cầu các thành viên của kíp cấp cứu thực hiện vài động tác tức thời:

  • Đảm bảo an toàn đường thở trên và hỗ trợ sự thông khí phổi.
  • Kiểm soát một xuất huyết ngoài hay bắt đầu hồi sức tim-phổi.
  • Gọi một sự hỗ trợ đặc hiệu bổ sung hay khởi động một protocol xác định (ví dụ một protocol truyền máu số lượng lớn).
  • Không có thương tổn đe dọa tính mạng tức thời và tiến hành một bilan sơ cấp kinh điển.

Một điều quan trọng là phải ý thức rằng tất cả những can thiệp tiền viện (đặt nội khí quản, truyền dịch, thông khí phổi, cho thuốc…) phải được kiểm tra và tính hiệu quả của chúng phải được xác nhận.

Ngay sau quick look này và trong khi những thành viên khác của kíp bắt đầu bilan sơ cấp, team leader cần tìm hiểu ở kíp cấp cứu tiền viện những thông tin thiết yếu:

  • Cơ chế chấn thương.
  • Những thương tổn đã được xác định.
  • Những dấu hiệu lâm sàng và các triệu chứng.
  • Các xử trí đã được thực hiện.
  • Sự đáp ứng với điều trị đó như thế nào.

Sau khi thực hiện quick look này,

việc chuyển trực tiếp và khẩn cấp bệnh nhân vào phòng mổ mà không cần bilan sâu hơn có thể được quyết định. Sự chuyển trực tiếp này dĩ nhiên là một ngoại lệ và đáp ứng với những điều kiện rất nghiêm túc. Rõ ràng là điều này cần phải chắc chắn rằng phòng mổ cho phép nhận trực tiếp vào trong một phòng trống hay một phòng được dành riêng cho loại cấp cứu này và rằng một thầy thuốc gây mê và một thầy thuốc ngoại khoa sẽ có mặt ngay để thực hiện phẩu thuật tối khẩn. Thường nhất đó là một động tác cầm máu bên trong ngực hay bụng mà việc này không thể thực hiện được một cách lý tưởng ở phòng cấp cứu.

Về phía bệnh nhân, có hai điều kiện phải được ưu tiên trước khi tiến hành đưa khẩn cấp vào phòng mổ là:

  • Tình trạng huyết động của bệnh nhân là nguy kịch mặc dù một hồi sức tiền viện thích đáng với hoạt động điện hiện diện nhưng huyết áp không có.
  • Có một nguyên nhân nghiêm trọng rõ rệt cho vấn đề: vết thương do đạn bắn, do dao đâm, do cắt cụt… Vì vậy thông thường điều này ít xảy ra đối với chấn thương kín ngoại trừ trường hợp ngoại lệ.

2. Bilan sơ cấp

American College of Surgeons đã phổ biến cách tiếp cận cổ điển ABC và đã phát triển thành ABCDE: Airway, Breathing, Circulation, Disability (tình trạng thần kinh), Exposure (cởi hoàn toàn quần áo bệnh nhân để đánh giá toàn diện). Phương pháp này đã được sử dụng trong hầu hết các nước châu Âu và nhiều nước trên thế giới.

Phương pháp này dựa trên thực

tế rằng sau một chấn thượng quan trọng, các bệnh nhân chết nhanh nhất do tắc đường khí đạo trên và sau đó do những vấn đề thông khí – hô hấp và trình trạng suy tuần hoàn trong bệnh cảnh sốc chấn thương. Những thương tổn não bộ gây tử vong thường muộn hơn, thậm chí chính chúng là nguyên nhân hay hậu quả của những vấn đề ABC (sự mất tri giác có thể ảnh hưởng đường thở, một tình trạng choáng có thể gây mất tri giác…). Đôi khi một số thương tổn nghiêm trọng chỉ rõ ràng khi bệnh nhận được cởi hết áo quần. Chính vì những lý do này mà phương pháp ABCDE là một chuẩn có thể áp dụng cho tất cả các bệnh nhân bị chấn thương, điều này cho phép đảm bảo rằng những vấn đề nghiêm trọng nhất được quản lý một cách ưu tiên.

Những bệnh nhân đa chấn thương

thường có nhiều thương tổn và sự xử trí bởi một đội (team) cho phép xử trí đồng thời nhiều vấn đề. Nhưng chính team leader là người có trách nhiệm đảm bảo rằng tất cả bilan sơ cấp đã được thực hiện và rằng những vấn đề nghiêm trọng đe dọa mạng sống nạn nhân đã được xử trí.

 

3. Bilan thứ cấp

Bilan thứ cấp được thực hiện chỉ sau khi đã loại bỏ hay điều trị tất cả những thương tổn de dọa tính mạng. Bilan thứ cấp cần 5-10 phút để thực hiện và là một thăm khám chi tiết từ đầu đến chân. Bilan thứ cấp cũng gồm có một đánh giá về những tiền sử và bệnh sử của nạn nhân. Trong bilan thứ cấp, ta cũng đưa vào kết quả của tất cả những thăm khám lâm sàng, sinh hóa và X-quang. Bằng cách này, ta đặt mình vào trong tình huống mà trong đó toàn bộ các thương tổn có cơ may được phát hiện nhất, nhưng không để bị lơ đãng bởi một thương tổn rõ ràng hơn, nhất là ở bệnh nhân bất tỉnh.

Cuối bilan thứ cấp, một đánh giá hoàn toàn của tình huống đã được thực hiện và ta có thể xác định một kế hoạch xử trí bệnh nhân.

Vào bất cứ lúc nào khác, nếu tình trạng của bệnh nhân trở nên xấu hơn, phải tức thời đánh giá lại tình hình bằng một bilan sơ cấp bằng cách lập lại ABCD.

a. Hỏi bệnh

Sau khi tạm kiểm soát được các chức năng sống, cần nhanh chóng khai thác bệnh sử (trong khi thực hiện các bước ABCDE, nếu vẫn còn thời gian và có đủ nhân lực thì có thể vừa làm vừa tranh thủ hỏi chi tiết bệnh sử của bệnh nhân nhưng vẫn phải ưu tiên vào kiểm soát các chức năng sống). Tất cả những bệnh lý có trước ở bệnh nhân chấn thương sẽ tiềm tàng làm gia tăng nguy cơ tử vong. Có 5 thông tin quan trọng cần khai thác đối với mọi bệnh nhân chấn thương được tập hợp lại bằng chữ viết tắc trong tiếng Anh: AMPLE. Nạn nhân chấn thương đa phần đều không có khả năng nói chuyện được nên tất cả những thông tin này phải được tìm kiếm ở tất cả những nguồn có sẵn: từ đội cấp cứu ngoại viện, người chứng kiến, người nhà nạn nhân, hồ sơ y khoa, thầy thuốc điều trị… và tất cả phải được ghi vào hồ sơ/bệnh án.

b. Thăm khám

Cố gắng đánh giá đầy đủ và tránh bỏ sót tổn thương, nhất là tổn thương ở phía sau: chẩm, gáy, cột sống, lưng… Nên tuân thủ trình tự thăm khám nhìn, sờ, gõ, nghe và lần lượt từ đầu đến chân, từ trước ra sau (tuân thủ thăm khám một cách hệ thống theo trình tự sẽ giúp giảm thiểu khả năng bỏ sót tổn thương):

  • Đầu: đồng tử, mắt (đáy mắt, nhãn cầu, thuỷ tinh thể), chảy dịch não tuỷ.
  • Hàm mặt.
  • Cổ – cột sống cổ.
  • Ngực: cần ghi nhớ 6 thương tổn ở ngực có khả năng gây chết người nếu không được nhận biết và điều trị tức thời: tắc đường thở trên, tràn khí màng phổi áp lực, vết thương ngực hở, tràn máu màng phổi số lượng nhiều, mảng sườn di động và chèn ép tim cấp.
  • Bụng: điểm chủ yếu của khám bụng là quyết định xem có cần thiết thực hiện phẫu thuật mở bụng cấp cứu hay không mà không cần chẩn đoán chính xác cơ quan bị thương tổn. Điều này hàm ý rằng cần khám toàn thể bụng, kể cả vùng chậu và đáy chậu. Tất cả những đụng dập, những biến dạng và những vết thương phải được ghi nhận. Nếu có những vết thương hở với sự bộc lộ của các nội tạng, phải che phủ chúng bằng gạc ấm có tẩm nước muối sinh lý. Không nên thăm dò mù những vết thương ở phòng cấp cứu, nhất là khi không thể xác định độ sâu nếu lớp cơ bị xuyên qua.

Một xuất huyết trong ổ bụng nên được nghi ngờ nếu tình trạng bệnh nhân không ổn định mà không tìm thấy một nguyên nhân nào rõ rệt, nhất là nếu ta ghi nhận gãy ở 6 xương sườn cuối hay nếu có những thương tổn hay bầm máu trên thành bụng.

  • Trực tràng/đáy chậu.
  • Các chi: các chi được khám một cách kinh điển: thị chẩn, rồi ấn chẩn và sau đó những cử động chủ động hay thụ động. Với cách này, ta sẽ phát hiện những máu tụ, những vết thương và những biến dạng, cũng như những tiếng lạo xạo, những khớp không vững, những thương tổn thần kinh – mạch máu, hay những thương tổn của các mô mềm. Mọi gãy xương hở sẽ được rửa sạch và được phủ bởi một băng không dính sau khi sát khuẩn rộng rãi. Điều lý tưởng và dễ dàng thực hiện là chụp một bức ảnh của vết thương để không phải mở băng vết thương khi khám bởi một thầy thuốc khác.

Những biến dạng lớn của các chi cũng sẽ được điều chỉnh và trước khi chụp X-quang, phải ghi nhận sự hiện diện của mạch và tìm kiếm thương tổn thần kinh. Trong trường hợp thương tổn mạch máu hay thần kinh, sự nắn xương sẽ được thực hiện trước khi chụp X quang.

Mọi gãy xương phải được bất động để làm giảm những cử động, điều này cũng sẽ làm giảm đau, xuất huyết, sự tạo thành những thuyên tắc mỡ và phù ở các mô mềm.

Lưng và cột sống (khi thăm khám cột sống lưng, phải đảm bảo giữ thẳng trục cột sống cổ.)

Nên khảo sát tổn thương theo 5 vùng cơ thể cho dễ đánh giá và lên kế hoạch xử trí gồm: Đầu – Cổ, Ngực, Bụng, Tiểu khung và Tứ chi.

Doctor team examining at lung radiograph x-ray film of patient in operation room.

c. Xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán

Song song với việc thực hiện những mục trên, cần chụp X-quang thường quy tại giường để không phải di chuyển bệnh nhân (trừ những bệnh nhân có khả năng đi lại được). Để sàng lọc các tổn thương có nguy cơ dẫn tới tình trạng tuần hoàn không ổn định, cần chụp lồng ngực, cột sống cổ, chụp xương chậu. Ngoài ra, phải nhanh chóng kiểm tra bằng siêu âm xem có tình trạng ép tim hay không, có đọng dịch trong khoang Morison, túi cũng Douglas và trong ổ bụng hay không. Cho dù lúc đầu không nhận thấy biểu hiện bất thường thì sau một thời gian vẫn phải đánh giá lại. Nhờ phương pháp chẩn đoán có tính chất hỗ trợ này, ta có thể tiên đoán được nguyên nhân của sốc phát sinh từ điểm nào của tổn thương để nhanh chóng xử trí. Việc kiểm tra tổn thương các cơ quan nội tạng bằng siêu âm có thể thực hiện sau khi xử trí hồi sức và đánh giá ban đầu.

Tiến hành lấy máu và nhanh chóng làm các xét nghiệm như xét nghiệm sinh hoá bao gồm công thức máu, đông máu, điện giải máu, glucose máu, nồng độ rượu trong máu, SGOT/SGPT, amylase, CK, CK-MB, nhóm máu, các phản ứng chéo để truyền máu… Nên làm khí máu động mạch cho một số bệnh nhân nhất định nếu thấy cần để đánh giá hô hấp và toan máu.

d. Các biện pháp xử trí khác

Khi cần thông tiểu, điều này sẽ được thực hiện qua đường niệu đạo nếu không có những chống chỉ định (các gợi ý một thương tổn của niệu đạo):

  • Máu tụ quanh bìu.
  • Chảy máu ở đầu của lỗ sáo.
  • Tuyến tiền liệt bị biến dạng khi khám trực tràng.
  • Gãy một ngành xương mu.
  • Không thể đi tiểu tự nhiên.

Để làm giảm áp dạ dày, tránh

ăn/uống sặc, cần đặt ống thông dạ dày. Thông thường đặt ống thông qua mũi, tuy nhiên với những trường hợp nghi ngờ gãy xương cuốn mũi, vỡ nền sọ, gãy xương hàm trên thì khi đặt ống thông dạ dày có thể chọc lên hộp sọ, do vậy cần đặt ống thông qua miệng.

Phần lớn các bệnh nhân đều cần tiêm phòng uốn ván.

Kiểm soát đau là thiết yếu ở tất cả bệnh nhân chấn thương. Thật vậy, đau làm giảm sự dung nạp của bệnh nhân đối với tình trạng giảm thể tích máu và cũng kích hoạt những phản ứng có hại cho cơ thể. Tuy nhiên, điều trị giảm đau quá mức cũng có thể che khuất một số thương tổn như đau bụng… hay có những tác dụng bất lợi như gia tăng áp lực nội sọ, sụt huyết áp…

Vận chuyển người bệnh chấn thương

Trong giai đoạn đầu điều trị, nếu nhận thấy việc điều trị bệnh nhân không thể thực hiện tốt tại cơ sở hiện tại, cần vừa tiến hành hồi sức vừa chuyển bệnh nhân tới cơ sở điều trị tuyến trên phù hợp gần nhất. Khi vận chuyển bệnh nhân, những biện pháp thận trọng thích đáng cần được áp dụng. Cần đảm bảo nguyên tắc an toàn trong chuyển bệnh, nên có bác sỹ đi cùng xe cấp cứu với bệnh nhân theo dõi sát và xử trí cấp cứu đảm bảo các chức năng sinh tồn của người bệnh.

Khi sự chuyển tuyến điều trị được dự kiến, hồ sơ bệnh án cần phải được hoàn chỉnh. Các thông tin về chỉ số sinh tồn, sự bù dịch đã được thực hiện, các thuốc đã cho, những thông tin quan trọng liên quan đến chấn thương và cả các vấn đề cần lưu ý về hành chính đã biết cũng cần được ghi vào hồ sơ.

Team leader cũng nên được báo về các biểu hiện tình trạng cảm xúc của gia đình nạn nhân. Điều lý tưởng là team leader nên nói chuyện ngắn gọn với họ, điểm lại tình hình và giải thích với họ kết quả của sự xử trí ban đầu. Tùy theo tình huống, gia đình nên được cho phép thấy bệnh nhân.

Người phụ trách bệnh nhân sẽ trình bày và bàn giao trực tiếp cho bác sỹ tiếp nhận về tình trạng người bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. Cấp cứu chấn thương. Tài liệu đào tạo cấp cứu cơ bản. Nhà xuất bản y học Hà Nội 2014.
  2. Trauma Care Manual. Third Edition. Published November 29, 2021 by CRC Press.
  3. Basic Trauma and Burn Support. Trong: Fundamental Critical Care Support. 4th edition. © 2007 by Society of Critical Care Medicine.
  4. Emergency & Trauma care training course. https://www.who.int/surgery/publications/s16382e.pdf

ThS. BS Nguyễn Thị Minh Nguyệt

BS CKII Nguyễn Quang Dũng

Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Tăng Acid Uric không triệu chứng

Tăng axit uric máu là một hiện tượng rối loạn sinh hóa rất phổ biến, có thể phát hiện được trong một lần xác định duy nhất urat huyết thanh ở 20 đến 25% nam …

Khủng hoảng trong điều trị loãng xương và giải pháp APCO

Loãng xương là một bệnh lý chuyển hoá với 2 đặc điểm chính: lượng chất khoáng trong xương bị suy giảm và cấu trúc sinh học của xương bị suy thoái. Hai đặc điểm này …

Vật lý trị liệu giảm đau, giãn cơ trong đau vai gáy

Đau vai gáy là triệu chứng của nhóm các bệnh có liên quan chặt chẽ đến hệ thống cơ xương khớp và mạch máu vùng vai gáy. Đau vai gáy khiến người bệnh cảm thấy …

Liên quan giữa bệnh gút và những tổn thương thận

Có thực tế mà không phải bệnh nhân nào cũng biết: có mối liên hệ khá chặt chẽ giữa bệnh lý thận và bệnh gút. Không phải ngẫu nhiên khi một trong những điều nên …

Ứng dụng Laser công suất cao trong trị liệu bệnh lý cơ xương khớp, thần kinh và sau đột quỵ

Laser là một kỹ thuật mới và hiện đại. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, vật lý y sinh, laser công suất cao ngày càng được ứng dụng nhiều trong thể …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi