Viêm gan B – Hãy nhớ: Quan trọng là phòng bệnh

Viêm gan là một tình trạng gan bị viêm do nhiều nguyên nhân, tình trạng viêm sẽ ảnh hưởng đến chức năng gan. Tùy theo nguyên nhân gây viêm gan, hiện tượng viêm có thể xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định hay kéo dài mạn tính. Các nguyên nhân gây viêm gan bao gồm sử dụng rượu nặng, độc tố, một số loại thuốc… Tuy nhiên, viêm gan thường do siêu vi gây ra.

Các tác nhân siêu vi phổ biến nhất gây viêm gan là năm loại siêu vi: A, B, C, D và E. Các loại siêu vi khác cũng có thể gây viêm gan, bao gồm Cytomegalovirus, Epstein-Barrvirus và sốt vàng. Cũng có nhiều trường hợp viêm gan siêu vi được ghi nhận do Herpes simplex virus gây ra. Mặc dù tất cả đều gây ra bệnh gan, nhưng chúng khác nhau ở những điểm quan trọng bao gồm các phương thức lây truyền, mức độ nghiêm trọng của bệnh, phân phối địa lý và phương pháp phòng ngừa. Đặc biệt, loại B và C dẫn đến bệnh mãn tính ở hàng trăm triệu người và cũng là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra bệnh xơ gan, ung thư và tử vong liên quan đến viêm gan do siêu vi. Hiện nay, viêm gan siêu vi C chưa có vaccin phòng ngừa nhưng đã có thuốc điều trị hiệu quả cao, đơn giản, dễ dung nạp, ngắn ngày. Viêm gan siêu vi B đòi hỏi điều trị dài lâu, khó điều trị khỏi hoàn toàn nhưng lại có thể ngừa hiệu quả bằng vaccin.

Trên thế giới, tỉ lệ nhiễm siêu vi viêm gan B cao nhất ở khu vực Tây Thái bình Dương (khoảng 6,2%) và khu vực châu Phi (khoảng 6,1%) dân số trưởng thành bị nhiễm bệnh. Tại khu vực Đông Địa Trung Hải (3,3%), khu vực Đông Nam Á (2,0%) và Châu Âu (1,6%), khu vực Châu Mỹ (khoảng 0,7%) tỉ lệ dân số bị nhiễm bệnh ở các khu vực này có phần thấp hơn. Tính đến năm 2016, trên thế giới có 27 triệu người (10,5% tổng số người ước tính sống chung với viêm gan B) đã biết về tình trạng nhiễm siêu vi viêm gan B của họ, trong khi 4,5 triệu (16,7%) trong số họ đang điều trị.

Người nhiễm siêu vi viêm gan B là nguồn lây duy nhất, lây từ máu, tinh dịch hoặc các chất dịch cơ thể khác từ người mang siêu vi. Việc lây nhiễm có thể qua quan hệ tình dục, dùng chung kim tiêm, ống tiêm, dụng cụ tiêm chích ma túy hoặc từ mẹ sang con khi sinh. HBV có thể tồn tại bên ngoài cơ thể và vẫn lây nhiễm trong ít nhất 7 ngày. Các đối tượng dễ bị lây bệnh bao gồm: Trẻ sơ sinh bị nhiễm từ mẹ, bạn tình dục bị nhiễm, đàn ông quan hệ tình dục với đàn ông, người tiêm chích ma túy, những người tiếp xúc trong gia đình hoặc bạn tình của những người đã biết bị nhiễm HBV mạn tính, nhân viên y tế… có nguy cơ bị phơi nhiễm với máu hoặc chất dịch cơ thể bị nhiễm máu, bệnh nhân chạy thận nhân tạo. Khi xâm nhập vào cơ thể người, siêu vi và cơ thể người sẽ tạo ra những dấu ấn trong máu được gọi là kháng nguyên và kháng thể. Phát hiện kháng nguyên IgM HBcAg trong huyết thanh là cần thiết để chẩn đoán nhiễm siêu vi viêm gan B cấp tính. Kháng nguyên bề mặt HBsAg có thể có trong nhiễm trùng cấp tính hoặc ở những bệnh nhân mang mầm bệnh mạn tính. Sự hiện diện của HBsAg trong huyết thanh trên 6 tháng cho thấy tình trạng nhiễm trùng mãn tính.

Đa số, viêm gan B là bệnh cấp tính, một số trường hợp bệnh có thể trở thành nhiễm trùng mãn tính có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, thậm chí đe dọa đến tính mạng như xơ gan hoặc ung thư gan. Không phải tất cả trường hợp nhiễm HBV đều có triệu chứng, nếu có triệu chứng có thể bao gồm mệt mỏi, chán ăn, đau dạ dày, buồn nôn và vàng da.

Nguy cơ nhiễm siêu vi mạn tính liên quan đến tuổi bị nhiễm: khoảng 90% trẻ sơ sinh bị viêm gan B tiếp tục phát triển thành mãn tính, trong khi đó chỉ có 2%- 6% những người bị viêm gan B khi trưởng thành bị nhiễm mãn tính. Diễn biến tự nhiên của nhiễm siêu vi viêm gan B rất phức tạp và bị ảnh hưởng rất nhiều bởi độ tuổi bị nhiễm bệnh, mức độ sao chép của HBV và tình trạng miễn dịch của vật chủ. Nhiễm siêu vi viêm gan B có thể gây các biến chứng: tái kích hoạt, xơ gan, ung thư gan và tử vong.

Cách tốt nhất để phòng ngừa viêm gan B là chủng ngừa.

Nên chủng ngừa cho tất cả những ai muốn bảo vệ khỏi nhiễm HBV, đặc biệt là ở những đối tượng nguy cơ cao. Tất cả trẻ sơ sinh nên tiêm vắc-xin viêm gan B khi sinh, bất kể tình trạng nhiễm trùng của người mẹ, có thể tiêm vắc-xin viêm gan B trong khi mang thai hoặc cho con bú, có thể tiêm vắc-xin viêm gan B cho người suy giảm miễn dịch chẳng hạn như người chạy thận nhân tạo hoặc người nhiễm HIV, có thể tiêm vắc-xin viêm gan B sau khi tiếp xúc với HBV. Điều lý tưởng nhất để bảo vệ gan không bị nhiễm HBV là chủng ngừa sớm, hiện nay chủng ngừa viêm gan siêu vi B đã được đưa vào chương trình tiêm chủng cho trẻ em. Tuy nhiên chủng ngừa có thể áp dụng cho cả người lớn chưa có miễn dịch.

Để phát hiện nhiễm HBV, chúng ta nên đi khám định kỳ và tầm soát siêu vi viêm gan B do đa số người bị nhiễm không có triệu chứng. Khi không may bị nhiễm siêu vi viêm gan B, người bệnh nên đến cơ sở y tế để được tư vấn, theo dõi và điều trị đê ngăn ngừa biến chứng và ngừa lây cho người khác.


Xin cám ơn 
BS CKII Trần Thị Vân Anh

Trưởng khoa Nội Nhiễm – BV Thống Nhất

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Đừng để viêm gan mãn tính thành xơ gan, ung thư gan

Theo thống kê của WHO, Việt Nam là nước có tỷ lệ người dân mắc bệnh xơ gan khá cao, chiếm 5% dân số. Trong đó, xơ gan do virus chiếm trên 40% và xơ …

Viêm gan B và phòng bệnh

Viêm gan B và phòng bệnh (Sức Khỏe – khoe24h) Tại Việt Nam, tỷ lệ người mang vi-rút viêm gan B khoảng 10-20% trong đó tỷ lệ mang vi-rút viêm gan B ở phụ nữ có …

Viêm gan siêu vi B

Viêm gan siêu vi B Bệnh viêm gan siêu vi B là bệnh nhiễm do siêu vi viêm gan B. Siêu vi sau khi xâm nhập vào tế bào gan sẽ gây ra phản ứng viêm …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi