Vai trò của thuốc YHCT & hoạt động hệ miễn dịch của cơ thể

Theo Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO – World Health Organization) sức khỏe của con người được định nghĩa như sau: “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh hay thương tật hoặc tàn phế”. Và ngược lại, bệnh tật xảy ra là do sự tấn công của các nguyên nhân ngoại lai từ môi trường như bụi – khói, thiên tai – địch họa, vi sinh vật (siêu vi, vi trùng, vi nấm, côn trùng…). Cơ thể phản ứng lại với các nguyên nhân gây bệnh ấy qua hoạt động của hệ miễn dịch cơ thể, gọi là sức đề kháng. Hay nói khác đi “Sức đề kháng là khả năng phòng vệ và chống lại các tác nhân xâm nhập vào cơ thể con người”. Bên cạnh đó các nguyên nhân khác như bẩm sinh, di truyền, rối loạn chuyển hóa, stress, chế độ dinh dưỡng không đúng – không đủ, hoặc tập quán – thói quen xấu… làm ảnh hưởng đến hệ miễn dịch. Khi hệ miễn dịch suy yếu, sức đề kháng sẽ giảm, có nghĩa là hệ thống miễn dịch của cơ thể suy giảm, chính là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại bệnh tật xâm hại và phát triển, trong đó có làm tăng lên nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm.

 

Hoạt động của hệ miễn dịch

Trong quá trình sống, không nói đến các bệnh lý bẩm sinh hay do di truyền, cơ thể người bắt buộc phải trao đổi tích cực với môi trường bên ngoài để tồn tại và phát triển. Chính điều này tạo ra nguy cơ tiếp xúc với các yếu tố đe dọa đến sức khỏe. Từ đó, cơ thể người đã hình thành và hoàn thiện hệ thống tự bảo vệ chính mình, đó là hoạt động của hệ miễn dịch.

Hệ miễn dịch không được tạo nên từ một thành phần đơn lẻ, nó bao gồm rất nhiều cơ quan và tế bào phân bố khắp cơ thể. Chúng phối hợp với nhau để bảo vệ cơ thể người chống lại vi trùng và vi sinh vật có trong cuộc sống hàng ngày. Từ các cơ quan chuyên biệt miễn dịch như tuyến ức, lách, các hạch lympho, các mảng lympho, các đám tế bào lymho dưới niêm mạc đến các cơ quan thuộc các hệ thống khác như gan, tủy xương. Các tế bào của hệ thống miễn dịch thì theo dòng máu và bạch huyết phân bố toàn thân, và một số tế bào chuyên biệt định vị tại các cơ quan để làm nhiệm vụ miễn dịch như ở gan có tế bào Kupffer, ở phổi có đại thực bào phế nang, ở da có tế bào Langerhans, ở não có tế bào Microglia.

Dựa trên phương thức hoạt động, hệ miễn dịch được chia thành đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu. Hai loại này bổ túc cho nhau, lồng ghép vào nhau, khuếch đại và điều hòa lẫn nhau để thực hiện chức năng bảo vệ cơ thể.

Miễn dịch không đặc hiệu được hình thành từ rất sớm trong quá trình tiến hóa, bao gồm các yếu tố dịch thể như lysozyme, C-reactive protein, hệ thống bổ thể, interferon… và các tế bào như bạch cầu hạt, bạch cầu đơn nhân (monocyte), Mast cell, tế bào giết tự nhiên (Natural killer cell). Đặc điểm của đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu là thời gian cần đáp ứng rất ngắn, tuy nhiên khi tiếp xúc lần hai mức độ đáp ứng vẫn như lúc ban đầu.

Miễn dịch đặc hiệu xuất hiện muộn trong quá trình tiến hóa, cũng bao gồm các yếu tố dịch thể là các kháng thể như IgA, IgE, IgM, IgG và các tế bào tham gia là các tế bào lympho T (T CD8+, T CD4+, T helper…), lympho B, tương bào. Đặc điểm của đáp ứng miễn dịch đặc hiệu là thời gian cần cho đáp ứng lần đầu dài hơn, ngược lại do thành lập được trí nhớ miễn dịch nên ở lần tiếp xúc thứ hai trở đi, đáp ứng nhanh hơn, kéo dài hơn, cường độ mạnh hơn và hiệu quả cao hơn lần đầu.

Khi có vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu sẽ được khởi động ngay tức thì để loại bỏ vi sinh vật qua hai cơ chế: đáp ứng viêm cấp và cơ chế kháng virus.

  • Đáp ứng viêm cấp: Cytokine và các hóa chất trung gian khác được sản xuất bởi đại thực bào, tế bào nhiều chân, tế bào mast, và các tế bào khác tại mô… đáp ứng với vi sinh vật và các tế bào ký chủ bị tổn thương. Các hóa chất trung gian này làm tăng tính thấm thành mạch, dẫn đến hiện tượng thoát mạch các protein huyết tương (như các protein bổ thể) vào trong mô và thúc đẩy sự di chuyển của bạch cầu từ trong máu đến mô. Tại đây bạch cầu phá hủy vi khuẩn, làm sạch mô tổn thương, thúc đẩy quá trình viêm và quá trình sửa chửa mô tổn thương.
  • Cơ chế kháng virus: Interferon type I (INF-α, INF-β) được sản xuất bởi các tế bào bị nhiễm virus thông qua đáp ứng với tín hiệu nội bào TLR và một số cơ chế nhận cảm với virus khác. Các interferon type I liên kết với thụ thể trên các tế bào lân cận không bị nhiễm virus và hoạt hóa con đường tín hiệu gây biểu hiện các enzyme khác nhau ngăn cản virus tăng sinh ở nhiều bước khác nhau, bao gồm ức chế tổng hợp protein của virus, tăng phá hủy RNA của virus, ức chế biểu hiện gen và sự tạo virion của virus. Các tế bào giết tự nhiên sẽ giết tế bào ký chủ bị nhiễm virus.

Sức đề kháng

Hoạt động của hệ miễn dịch tạo ra sức đề kháng cho cơ thể nhằm đối phó với nguyên nhân gây bệnh, sức đề kháng của cơ thể người có thể phân làm 2 loại chính là: Sức đề kháng tự nhiên và sức đề kháng thu được. Sức đề kháng có vai trò quan trọng với sức khỏe, nó chính là “màng chắn” giúp kháng lại các yếu tố gây bệnh, để sống còn, hoạt động hệ miễn dịch phải mạnh mẽ, mới duy trì tốt sức kháng bệnh.

  • Sức đề kháng bẩm sinh

Là sức đề kháng tự nhiên đã có trong cơ thể, bao gồm các hàng rào vật chất để ngăn cách giữa bên ngoài và bên trong cơ thể, giúp bảo vệ cơ thể. Bao gồm các đại thực bào (Macrophage, các loại thực bào như tế bào sát thủ tự nhiên (Natural killer cell – NK cell), hệ thống niêm mạc, chất dịch như mồ hôi, dịch nhày… Sức đề kháng tự nhiên được hình thành ngay khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ, khi đó trẻ nhận đề kháng trực tiếp từ cơ thể mẹ truyền sang thông qua nhau thai. Giai đoạn 3 tháng cuối của thai kì là giai đoạn mẹ truyền nhiều kháng thể nhất cho trẻ để chuẩn bị lớp phòng vệ trước khi ra đời. Sau khi được sinh ra, sức đề kháng được duy trì thông qua sữa mẹ. Sức đề kháng tự nhiên có vai trò rất quan trọng giúp bảo vệ cơ thể con người. Nhưng theo thời gian, với sự tác động của các yếu tố bên ngoài sức đề kháng tự nhiên sẽ dần giảm và được thay thế dần bằng sức đề kháng thu được qua đáp ứng miễn dịch…

  • Sức đề kháng thu được

Sức đề kháng loại này chỉ phát sinh khi cơ thể có nhu cầu, chỉ xuất hiện khi có tác động trực tiếp từ bên ngoài. Nó bao gồm các kháng thể được sinh ra để trung hòa các kháng nguyên như tiêm chủng vaccine phòng bệnh, hoặc kích hoạt một số chức năng của sức đề kháng tự nhiên. Sức đề kháng có vai trò quan trọng với sức khỏe, nó chính là “màng chắn” giúp kháng lại các yếu tố gây bệnh, để sống còn, hoạt động hệ miễn dịch phải mạnh mẽ, mới duy trì tốt sức kháng bệnh.

 

Quan niệm của Đông y về sức đề kháng của cơ thể

YHCT có hai khái niệm là Chính khí và Tà khí. Chính khí là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các nguyên nhân gây bệnh. Tà khí là các nguyên nhân gây bệnh

Phương thức tác động của chính khí bao gồm:

  • Tự mình điều tiết để thích ứng với sự thay đổi của nội và ngoại hoàn cảnh để duy trì cân bằng âm dương.
  • Kháng lại tà khí để phòng bệnh hoặc khi cơ thể mắc bệnh thì khu tà và đưa ra ngoài.
  • Khả năng cơ thể tự hồi phục sau khi bị bệnh hoặc khi cơ thể bị hư nhược thì tự mình thay đổi và hồi phục sức khỏe.

Từ đó có thể nói Chính khí của Đông y tương quan gần với sức đề kháng của Tây y.

Bệnh là bộc lộ phản ứng giữa chính khí với tà khí, khi có sự tác động của nguyên nhân gây bệnh, phản ứng bộc lộ ra thực chứng khi chính khí của cơ thể mạnh mẽ (sức đề kháng mạnh) và bộc lộ ra hư chứng khi chính khí suy yếu.

Hay nói khác đi, bệnh xuất hiện là do đấu tranh giữa chính khí và tà khí, YHCT luôn coi trọng phương pháp điều trị lấy phù chính khu tà làm nguyên tắc trọng yếu. Phù chính là nguyên tắc phù trợ chính khí, tức dùng các vị thuốc hoặc châm cứu phù trợ chính khí, đồng thời phối hợp thích đáng với các phương pháp khác như dinh dưỡng, điều hòa tinh thần, rèn luyện thân thể để tăng cường thể chất, nâng cao sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật để đạt hiệu quả chiến thắng tà khí và khôi phục sức khỏe.

Bên cạnh phù chính để khu tà, Đông y cũng có biện pháp Khử tà là nguyên tắc điều trị tấn công nhằm tiêu trừ nguyên nhân gây bệnh khi chính khí mạnh để đạt mục đích khỏi bệnh.

Phù chính khu tà, tức là nguyên tắc làm tăng sức đề kháng, để cơ thể tự đẩy lùi bệnh tật ra ngoài.

Vai trò của thuốc YHCT

YHCT đang ngày càng thu hút được sự chú ý của giới học thuật. Trong vài thập kỷ qua YHCT đã cho thấy vai trò trong các bệnh lý mạn tính, tác động chống oxi hóa mạnh mẽ, và tác động đến hệ thống miễn dịch. Vài năm qua, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào hiệu quả điều biến miễn dịch của YHCT. Duy trì sự điều hòa hằng định miễn dịch của hệ thống miễn dịch là điều cần thiết để có sức khỏe bình thường. Nhiều bệnh nguy hiểm có thể xảy ra khi bất thường trong sự điều hòa miễn dịch. Khi miễn dịch bị ức chế, hệ thống miễn dịch thất bại trong việc bảo vệ cơ thể chống lại tác nhân nhiễm trùng và các chất gây hại dẫn đến nhiễm trùng và ung thư. Mặt khác, khi hệ thống miễn dịch tăng hoạt động quá mức sẽ dẫn đến đáp ứng với các kháng nguyên tự thân gây ra bệnh tự miễn hoặc tăng đáp ứng với các kháng nguyên không gây hại gây ra sự tăng nhận cảm trong các bệnh dị ứng hoặc gây thải ghép tạng.

 

Tác dụng kích thích miễn dịch

Linh chi (Ganoderma lucidum) với thành phần chính là polysaccharide có hoạt tính thúc đẩy sự hoạt hóa và trưởng thành của tế bào nhiều chân. Nghiên cứu đã chứng minh linh chi làm tăng biểu hiện các thụ thể bề mặt của tế bào nhiều chân như CD80, CD86, CD83, CD40, CD54 và HLA-DR, tăng sản xuất IL-10, IL-12p70/40 và tăng khả năng kích thích tế bào T của tế bào nhiều chân.

Bổ cốt chi (Fructus psoraleae) và nha đảm tử (Brucea javanica) trong mô hình chuột nhiễm Pneumocystis carinii đã cho thấy khả năng làm tăng cường chức năng của tế bào giết tự nhiên chống lại nhiễm vi sinh vật.

Nhân sâm (Panax ginseng), thành phần Ginsenosides của nhân sâm được báo cáo là có khả năng làm tăng hoạt động miễn dịch của lympho T CD4+.

Bổ trung ích khí thang được chứng minh kích thích hệ thống miễn dịch niêm mạc đường hô hấp trên, gây tăng sản xuất các kháng thể đặc hiệu cho kháng nguyên ở cả trên niêm mạc được hô hấp trên và hệ thống miễn dịch toàn thể.

Ngũ gia bì gai (Acanthopanax senticosus) cho thấy tác dụng bảo vệ khỏi tác động của tia xạ bằng cách kích thích sự tăng sinh và sự tự hồi phục của tế bào gốc tạo máu (là tiền thân của tất cả các tế bào máu bao gồm bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu.

Thập toàn đại bổ thang cũng cho thấy hiệu quả tăng tạo tế bào lympho ở người.

Nhân sâm dưỡng vinh thang được nghiên cứu cho thấy có tác dụng cải thiện sự sản xuất quá mức cytokine của Th1 và Th2 và duy trì hằng định nội môi của cytokine.

Bạch thược (Paeonia moutan) được xem là tác nhân mới trong điều trị ung thư gan (HCC), các nghiên cứu cho thấy paeonol trong Bạch thược tăng cường chức năng miễn dịch, ức chế sự phát triển của khối u thông qua việc thúc đẩy tế bào ung thư đi vào chu trình apoptosis và kích thích sản xuất IL-2 và TNF-α.

Hoàng kỳ (Radix Astragali) có chức năng bảo vệ cơ quan miễn dịch (hạch lympho, lách, tuyến ức) bằng cách làm giảm các thay đổi bệnh lý trong cơ quan miễn dịch, giảm TNF-α và ức chế biểu hiện Bax và sự apoptosis của lách và tuyến ức. Phối hợp hoàng kỳ, nữ trinh tử (Fructus Ligustri Lucidi), cỏ mực (Eclipta prostrate) có thể làm tăng trọng lượng của các cơ quan miễn dịch như lách và tuyến ức.

Ức chế miễn dịch

Quyên tý thang và Quyên tý thang hợp ngũ linh tán cho thấy tiềm năng kháng viêm thông qua cơ chế ức chế sự sản xuất quá mức các hóa chất trung gian gây viêm như NO, TNF-α, IL-1β, IL-6, trong điều trị viêm khớp.

Baicalin từ hoàng cầm (Scutellaria baicalensis) cũng cho thấy hoạt tính kháng viêm bằng cách liên kết với các chemokine và giới hạn hoạt tính sinh học của chúng dẫn đến làm giảm sự di chuyển của tế bào miễn dịch và ức chế phản ứng viêm.

Lôi công đằng (Triptergium Wilfordii Hook F) có tác dụng chống thải ghép thận và cải thiện thời gian tồn tại của thận ghép. Phục linh (Poria cocos) ức chế thải ghép cấp trong ghép tim và kéo dài thời gian tồn tại sau ghép tạng.

Ngọc bình phong tán chứng minh tác dụng làm giảm IgE trên các bệnh nhân viêm mũi dị ứng. Kết hợp các bài thuốc gồm Tân di tán, Hương sa lục quân, Tiểu thanh long thang làm giảm sự tương tác giữa tế bào nhiều chân và tế bào T CD4+ trên bệnh nhân hen phế quản và viêm mủi dị ứng.

Điều hòa miễn dịch

Các loại thảo dược như Nhân sâm, Lô hội, Đương quy, Hoàng kỳ, Câu kỹ tử, Nữ trinh tử, Mạch môn, Bạch linh, Đông trùng hạ thảo, Nấm mèo trắng, Linh chi… qua nghiên cứu, thành phần polysaccharide từ các thuốc này được chứng minh qua nhiều thử nghiệm dược lý cho thấy có tác dụng điều hòa miễn dịch rộng rãi và hiệu quả kháng ung thư. Dựa trên các nghiên cứu trên in vitro và in vivo, các polysaccharide có thể kết hợp với các thụ thể miễn dịch như Dectin-1, thụ thể bổ thể 3 (CR3), thụ thể Toll-like (TLR), thụ thể thu dọn (SR), thụ thể mannose (MR), và khởi phát một chuỗi các con đường tín hiệu tế bào. Trên một số con đường khác như miễn dịch hồng cầu và mạng lưới thần kinh-nội tiết-miễn dịch, polysaccharide cũng thể hiện tác động lên hệ thống miễn dịch.

 

Kết luận

Tóm lại, có thể thấy có nhiều yếu tố dẫn tới suy giảm sức đề kháng như:

  • Môi trường ô nhiễm: Bụi, khói, khí thãi từ sản xuất công nghiệp, ô tô, xe máy, khói thuốc lá… khiến môi trường ngày càng ô nhiễm. Các nghiên cứu đã phát hiện: không khí bẩn ngăn chặn các tế bào T (tế bào cần thiết của hệ miễn dịch) gây ra viêm nhiễm hô hấp.
  • Stress: Khi căng thẳng kéo dài khiến hệ miễn dịch suy giảm khả năng chống lại vi khuẩn, siêu vi gây bệnh.
  • Uống ít nước: Nước có vai trò quan trọng với cơ thể, không những giúp cơ thể loại bỏ các yếu tố độc hại mà còn giúp các chức năng của cơ thể vận hành bình thường. Khi bổ sung nước không đầy đủ cho cơ thể là một trong những lý do khiến sức đề kháng suy giảm.
  • Giờ giấc nghỉ ngơi không hợp lý: Nếu bạn thức quá khuya, nghỉ ngơi không đầy đủ, cơ thể khi đó sẽ không sản xuất đủ melatonin trong khi ngủ, hệ thống miễn dịch không thể tạo đủ tế bào bạch cầu để chống đỡ vi khuẩn gây bệnh.

  • Dinh dưỡng thừa năng lượng, hoặc thiếu các thành phần vi lượng, vitamin… hoặc thực phẩm nhiễm độc do tồn dư thuốc trừ sâu hay chất bảo quản… là yếu tố góp phần giảm sức đề kháng.
  • Thiếu vận động, máu huyết không lưu thông tốt, không đủ nuôi dưỡng các bộ phận trọng yếu cũng như không hỗ trợ kịp thời hoạt động của hệ miễn dịch, các nội tiết tố như serotonin, endorphin… không được sản xuất làm cho tinh thần trì trệ, mệt mỏi thường xuyên, cơ bắp đau nhức…

Thực hiện được việc thay đổi cách sống, chế độ dinh dưỡng phù hợp, ngủ đủ, tập luyện thường xuyên và lạc quan trong cuộc sống sẽ giúp cho hoạt động hệ miễn dịch làm tăng sức đề kháng tốt hơn, bên cạnh đó từ các nghiên cứu minh chứng rằng các thảo dược có vai trò rất tốt trong chăm sóc – điều trị và phòng bệnh thông qua cơ chế hoạt động của hệ miễn dịch.

Và trong thực tế hiện nay, dịch cúm Covid 19 đã hoành hành và lan rộng phức tạp hơn 50 nước trên toàn cầu, hơn lúc nào hết chúng ta hiểu rằng duy trì sức đề kháng tốt là một giải pháp quan trọng giúp cơ thể khỏe mạnh, đồng thời vượt qua nếu không may nhiễm bệnh. Bên cạnh các giải pháp chăm sóc, điều trị triệu chứng cúm, điều trị bệnh nền và kịp thời trong cấp cứu, YHCT có vai trò không nhỏ trong chăm sóc và điều trị hỗ trợ nhằm tăng cường hoạt động hệ miễn dịch. 

Ngoài ra, đối với người mắc các bệnh mạn tính, duy trì tốt hoạt động hệ miễn dịch là điều vô cùng cần thiết nhằm kháng lại các yếu tố gây bệnh chực chờ có thể làm tăng nặng hơn tình trạng vốn có, ảnh hưởng đến sức khỏe nói chung, thì bài toán kết hợp Đông – Tây y là điều nên nghĩ đến nhằm giúp sức đề kháng của cơ thể được tốt hơn.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Abbas, Abul K., Lichtman, Andrew H., and Pillai, Shiv (2019), Basic Immunology: Functions and Disorders of the Immune System, Elsevier.
  2. Dai, X. D., et al. (2007), “Effects of Fructus Psoralea and Brucea javanica on the level of IL-2 and NK cell in rats infected with Pneumocystis carinii”, Zhongguo ji sheng chong xue yu ji sheng chong bing za zhi= Chinese journal of parasitology & parasitic diseases. 25(5), pp. 436-438.
  3. Ji, S. M., et al. (2006), “Clinical trial of Tripterygium wilfordii Hook F. in human kidney transplantation in China”, Transplant Proc. 38, pp. 1274-1279.
  4. Jiang, Ming-Hua, Zhu, Liang, and Jiang, Jian-Guo (2010), “Immunoregulatory actions of polysaccharides from Chinese herbal medicine”, Expert opinion on therapeutic targets. 14(12), pp. 1367-1402.
  5. Jung, Hyo Won, et al. (2007), “Wen-Pi-Tang-Hab-Wu-Ling-San extract inhibits the release of inflammatory mediators from LPS-stimulated mouse macrophages”, Journal of ethnopharmacology. 114(3), pp. 439-445.
  6. Lee, Eui-joon, et al. (2004), “Ginsenoside Rg1 enhances CD4+ T-cell activities and modulates Th1/Th2 differentiation”, International immunopharmacology. 4(2), pp. 235-244.
  7. Li, Bao Qun, et al. (2000), “The flavonoid baicalin exhibits anti-inflammatory activity by binding to chemokines”, Immunopharmacology. 49(3), pp. 295-306.
  8. Lin, YuLi, et al. (2005), “Polysaccharide purified from Ganoderma lucidum induced activation and maturation of human monocytederived dendritic cells by the NFκB and p38 mitogenactivated protein kinase pathways”, Journal of leukocyte biology. 78(2), pp. 533-543.
  9. Luo, Qiulan, et al. (2017), “Potential effectiveness of Chinese herbal medicine Yu ping feng san for adult allergic rhinitis: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials”, BMC complementary and alternative medicine. 17(1), p. 485.
  10. Ma, Hong-Di, et al. (2013), “Traditional Chinese medicine and immune regulation”, Clinical reviews in allergy & immunology. 44(3), pp. 229-241.
  11. Sun, Guo-Ping, et al. (2008), “Anti-tumor effects of paeonol in a HepA-hepatoma bearing mouse model via induction of tumor cell apoptosis and stimulation of IL-2 and TNF-α production”, European journal of pharmacology. 584(2-3), pp. 246-252.
  12. Yang, Sien-Hung, et al. (2016), “The immune-modulatory effects of a mixed herbal formula on dendritic cells and CD4+ T lymphocytes in the treatment of dust mite allergy asthma and perennial allergic rhinitis”, Journal of Asthma. 53(4), pp. 446-451.

PGS. TS. BS Nguyễn Thị Bay

Nguyên Trưởng bộ môn Bệnh học

Khoa Y học cổ truyền, ĐH Y dược TP. HCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Vì sao Đông Y phải đổi mới thời @?

Cho dù ngành y dược hiện đại đã, đang và sẽ tiếp tục có những bước tiến không ngừng đột phá, thì hàng triệu bệnh nhân trên khắp năm châu vẫn đang đặt niềm tin …

Chăm sóc sức khỏe bằng YDCT – Xu thế tất yếu

Y Dược Cổ Truyền (YDCT) nói chung và Đông dược nói riêng, được sử dụng trong phòng bệnh và chữa bệnh đã có từ hàng ngàn năm và hiện vẫn không ngừng phát triển. Xu …

Loãng xương dưới góc nhìn của YHCT

Những năm qua, số lượng các nghiên cứu đánh giá hiệu quả và an toàn của các phương pháp YHCT trong điều trị loãng xương được công bố trên các tạp chí khoa học quốc …

Vai trò của thuốc YHCT trong điều trị viêm dạ dày do khuẩn Helicobacter pylori

Viêm dạ dày là bệnh lý tâm thể, do nhiều nguyên nhân và nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp tác động, dễ tái phát và tiến triển mạn tính, trong đó nhiễm H. pylori …

Vai trò của thuốc Y học cổ truyền trong điều trị Viêm gan siêu vi mạn tính

Viêm gan là tình trạng có tổn thương tế bào nhu mô gan do nhiều nguyên nhân khác nhau. Khi tế bào gan bị hủy hoại, màng tế bào bị vỡ làm cho hoạt độ …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi