Vắc-xin – Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Việt Nam chúng ta trong những đợt trước đây, khi mà dịch chưa lây lan ra cộng đồng thì giải pháp truy vết, phong tỏa, cách ly là rất thành công và được thế giới ngưỡng mộ. Với tình hình hiện nay thì giải pháp này vẫn có thể còn hiệu quả nhưng một khi dịch quá lan rộng ngoài cộng đồng thì sẽ trở thành một cuộc đấu khó cân sức…Chính vì vậy, chỉ có một giải pháp có thể giúp chúng ta chiến thắng được dịch bệnh, đó là vắc-xin, giải pháp thực sự chủ động, vũ khí duy nhất sẽ giúp chúng ta vượt qua được đại dịch COVID-19 để trở lại cuộc sống bình thường.

 

Nhìn qua các nước Âu Mỹ chúng ta đã thấy dịch bệnh bùng phát rất dữ dội, con số lây nhiễm rất cao, các bệnh viện có nhiều khi tràn ngập người bệnh, số người chết nhiều vì cho dù tỷ lệ tử vong của COVID-19 không cao, nhưng với số người mắc cùng lúc quá cao thì nhiều cơ sở y tế bị quá tải. Ban đầu các nước này cũng chỉ chống lại đại dịch bằng những phương pháp rất thụ động, đó là đeo khẩu trang, cách ly, xét nghiệm truy vết, phong tỏa… nhưng phải thừa nhận là các phương pháp này hầu như khó hiệu quả vì chỉ cần nới lỏng là dịch bệnh lại bùng phát. Lý do là vì dịch đã lan rộng ngoài cộng đồng thì nguồn lây không thể truy vết để kiểm soát được. Thế nhưng hiện nay các nước này hầu như đang khép được cánh cửa đại dịch, cuộc sống gần như trở lại bình thường và giải pháp chính yếu đó là vắc-xin để tạo được miễn dịch cộng đồng.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Vắc-xin là gì và vắc-xin ngừa COVID-19 chứa thành phần chính là gì?

Vắc-xin là một chế phẩm sinh học được sử dụng để giúp cơ thể chống (tạo được miễn dịch chủ động) được một bệnh nhiễm trùng nào đó mà cơ thể có thể chưa mắc phải trước đó, nhưng có thể sẽ gặp trong tương lai, vì đây là những bệnh có thể lây lan dễ dàng hay gây thành dịch hoặc có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe. Đưa vắc xin vào cơ thể để tạo miễn dịch được gọi là chủng ngừa (vaccination). Chính nhờ chủng ngừa bằng vắc xin mà loài người đã thành công trong việc loại bỏ vĩnh viễn một số bệnh ra khỏi địa cầu như đậu mùa, sốt vàng hay làm giảm được tỷ lệ mắc của một số bệnh như cúm, bại liệt, lao, thủy đậu, viêm gan B… Cho đến hiện nay, Tổ Chức Y Tế Thế Giới ghi nhận có trên 25 bệnh nhiễm trùng đã và đang được ngừa hiệu quả bằng vắc-xin. Tuy nhiên, cũng còn nhiều bệnh nhiễm trùng mà y học vẫn chưa thể tìm ra được vắc xin phòng ngừa.

Để chống được một tác nhân vi sinh gây bệnh nhiễm trùng thì vắc xin phải kích thích được miễn dịch của cơ thể chống lại khả năng gây bệnh của chính tác nhân đó. Như vậy thì vắc xin phải chứa một thành phần kích thích được miễn dịch bảo vệ của cơ thể, chứ không phải kích thích được miễn dịch chỉ nhận diện được tác nhân mà không giúp bảo vệ được cơ thể không bị bệnh. Thành phần trong vắc-xin kích thích được miễn dịch bảo vệ của cơ thể được gọi là kháng nguyên bảo vệ. Hiện nay vẫn còn có nhiều tác nhân vi sinh gây bệnh mà các nhà khoa học chưa chế được vắc-xin vì chưa biết được thành phần nào của vi sinh vật chính là kháng nguyên bảo vệ. Ví dụ vi rút viêm gan C (HCV: Hepatitis C vi rút) hay vi rút HIV là điển hình hai tác nhân mà cho đến nay các nhà khoa học chỉ tìm được các kháng nguyên kích thích cơ thể người nhiễm tạo được miễn dịch nhận biết người bị nhiễm, chứ vẫn chưa biết được kháng nguyên nào là kháng nguyên bảo vệ, nên chưa chế được vắc xin. Trong khi đó với vi rút viêm gan B (HBV: Hepatitis B vi rút) thì chúng ta đã có được vắc xin từ sớm vì các nhà khoa học đã biết được kháng nguyên bề mặt của vi rút (HBsAg: Hepatitis B surface Antigen) chính là kháng nguyên kích thích được miễn dịch bảo vệ nên vắc-xin ngừa HBV chứa thành phần chính là chế từ kháng nguyên bề mặt của vi rút (siêu vi).

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Đối với tác nhân SARS-CoV-2 gây COVID-19 thì các nhà khoa học đã rất sớm giải trình tự toàn bộ genome cũng như nuôi cấy được vi rút nên đã sớm xác định được thành phần gây bệnh chính của vi rút, đó là các protein gai hay gọi là protein S (Spike) hiện diện trên bề mặt của vi rút. SARS-CoV-2 dùng các protein S này để bám vào các thụ thể là các ACE2 (Angiotensin Converting Enzyme 2) hiện diện nhiều trên bề mặt của tế bào biểu mô hô hấp cũng như biểu mô nội mạch. Nhờ đó mà tác nhân SARS-CoV-2 xâm nhập được vào bên trong tế bào rồi nhân bản thành nhiều vi rút khác để xâm nhập vào các tế bào mới và lan tràn. Hiện nay các nhà khoa học đã xác định protein S không chỉ giúp vi rút xâm nhập để tăng sinh và lan tràn mà còn giết chết tế bào vì chúng làm tê liệt các ti thể của tế bào là nơi tạo ra được năng lượng cho mọi hoạt động của tế bào.

Biết được thành phần chính gây bệnh của SARS-CoV-2 đồng nghĩa là các nhà khoa học đã biết được kháng nguyên kích hoạt hệ thống miễn dịch bảo vệ của cơ thể chống được bệnh COVID-19, đó chính là các protein S của vi rút. Như vậy thì đích nhắm của chế tạo vắc-xin là phải chứa được thành phần kích hoạt được miễn dịch của cơ thể ngăn chặn hoạt động protein S của SARS-CoV-2. Dựa trên nguyên tắc này, hiện nay các nhà khoa học và các công ty đã sản xuất vắc xin ngừa COVID-19 với 4 loại sau đây:

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

 

1.Vắc-xin bất hoạt:

Đây là loại vắc-xin truyền thống đã và đang được sản xuất để ngừa nhiều bệnh nhiễm vi rút khác nhau như cúm, sởi, trái rạ… Vắc xin bất hoạt ngừa COVID-19 là vắc xin chế từ vi rút SARS-CoV-2 phân lập từ người bệnh, được nuôi cấy trong cấy tế bào (tế bào Vero E6 có nguồn gốc từ thận khỉ xanh Châu Phi) và sau đó làm bất hoạt chúng. Tiêu biểu là các vắc xin do các công ty Sinopharm, Sinovac và Sinopharm-Wuhan của Trung Quốc phát triển. Một loại vắc xin bất hoạt nữa do Icahm MS Mount Sinai NY phát triển dùng vi rút Newcastle Disease Virus (NDV: là loại vi rút gây bệnh cho gia cầm nhưng không gây bệnh cho người) được chèn gen S của SARS-CoV-2 để biểu hiện được protein gai neo màng (membrane-anchored spike) của SARS-CoV-2. Vi rút tái tổ hợp này được cấy trên phôi trứng gà lộn và sau đó được thu gặt, tinh khiết và được bất hoạt (như là phương pháp sản xuất vắc xin cúm) để làm vắc-xin. Công nghệ này đã được chuyển giao cho IVAC (Viện Vắc xin Sinh Phẩm Y Tế) Nha Trang bản quyền sản xuất vắc xin COVIVAC ngừa COVID-19. Hiện COVIVAC cũng đã qua thừ nghiệm giai đoạn II và sắp vào giai đoạn III. Dĩ nhiên vắc-xin bất hoạt sản xuất theo công nghệ này cũng còn chứa một số thành phần của bản thân vi rút cũng như có thể chứa một thành phần chưa loại bỏ hết từ phôi trứng và nhà sản xuất phải đảm bảo các thành phần này là vô hại.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

2. Vắc-xin protein gai tái tổ hợp:

Đây là loại vắc-xin chỉ chứa các protein gai của SARS-CoV-2 được tổng hợp bằng công nghệ tái tổ hợp di truyền. Tóm tắt công nghệ này là chèn gen tổng hợp nguyên cả protein gai hay chỉ một phần chính yếu của protein gai (phần nhận diện và tóm bắt được thụ thể ACE2) của vi rút vào một vector rồi chuyển vector này vào một loại tế bào để nhờ tế bào này sản xuất được protein gai. Hiện nay công ty Nanogen của Việt Nam đã nghiên cứu sử dụng dòng tế bào CHO (Chinese Hamster Ovary: tế bào buồng trứng của Hamster Trung Hoa là dòng tế bào đã được quốc tế chấp nhận sử dụng trong sản xuất các dược phẩm protein dành cho điều trị) để sản xuất được protein gai và vắc-xin Nano-Covax của Nanogen đã qua được hai phase 1 và 2 với đánh giá là rất an toàn và sinh miễn dịch tốt. Ngoài Nanogen thì Novavax của Mỹ và Vector Institute của Nga cũng đang là hai công ty đang sản xuất vắc xin protein gai tái tổ hợp. Riêng đối với Novavax thì đây là vắc xin tiểu đơn vị protein được sản xuất không phải từ tế bào CHO mà là từ nuôi cấy tế bào của côn trùng là con bướm đêm. Công nghệ chế tạo vắc xin tiểu đơn vị protein gai này rất giống công nghệ chế tạo vắc-xin dành cho chích ngừa vi rút u nhú của người (HPV: Human Papillomavirus) để ngừa ung thư cổ tử cung. Các protein gai tinh sạch được đính lên các vi hạt lipid rồi trộn với một tá chất trích từ vỏ cây xà phòng (Soapbark tree) để kích hoạt miễn dịch và đây chính là vắc-xin Novavax.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

3. Vắc-xin DNA:

Đây là loại vắc-xin dùng một loài vi rút vô hại với người để làm vector đưa DNA chịu trách nhiệm sản xuất protein của vắc-xin vào tế bào cơ thể, làm cho tế bào sản xuất các protein này và kích thích hệ miễn dịch tạo được miễn dịch bảo vệ cơ thể chống lại tác nhân vi sinh gây bệnh. Đối với COVID-19 thì các nhà khoa học đã dùng adenovirus để làm vector mang DNA chịu trách nhiệm sản xuất protein S của SAR-CoV-2 bằng cách tăng sinh vi rút trong cấy tế bào rồi thay thế gen E1 của adenovirus bằng gen S và như vậy là vi rút sẽ không còn khả năng nhân bản mà sẽ trở thành vector mang DNA của gen S. Các adenovector mang DNA này sau khi chích vào người sẽ xâm nhập tế bào và giải phóng DNA vào nhân tế bào để được phiên mã thành mRNA đưa vào tế bào chất. Tại tế bào chất, mRNA sẽ trượt lên các ribosome gắn trên màng lưới nội sinh chất để tổng hợp protein S tập trung trong bộ Golgi và được đưa ra ngoài tế bào để kích hoạt hệ miễn dịch. Hiện có 4 nhà sản xuất trên thế giới sử dụng adenovector làm vắc-xin DNA chống COVID-19, đó là Gameleya của Nga dùng hai loại adenovirus type 26 (Ad26) và type 5 (Ad5), Oxford-AstraZeneca của vương quốc Anh dùng adenovirus của tinh tinh (chimpanzee adenovirus: ChAdOx1), Cansino của Trung Quốc dùng adenovirus type 5 và Johnson & Johnson của Hoa Kỳ dùng adenovirus 26.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

4. Vắc-xin mRNA:

Đây là một cuộc cách mạng công nghệ trong chế tạo vắc-xin với rất nhiều bước tiến kỹ thuật đặc biệt, đó là kỹ thuật tổng hợp mRNA nhân tạo và kỹ thuật để sau khi chích mRNA cơ thể thì các mRNA này sẽ vào được tế bào bằng cơ chế nội bào tự nhiên mà không cần phải sử dụng bất cứ một tác động nào khác. Vắc-xin mRNA sau khi nội bào sẽ được phóng thích vào tế bào chất rồi được các ribosome của tế bào nằm sẵn trên lưới nội sinh chất dịch mã thành các protein S đưa ra trên mặt ngoài của tế bào và kích thích được miễn dịch bảo vệ của cơ thể. Hiện có hai nhà sản xuất trên thế giới đưa ra được vắc-xin mRNA ngừa COVID-19, đó là Pfizer BioNTech và Moderna. Do bản chất là mRNA và phải đóng gói trong các vi hạt lipid nên vắc-xin mRNA đòi hỏi điều kiện bảo quản khá chặt chẽ vì thế mà các quốc gia nghèo hay đang phát triển sẽ rất khó để có thể sử dụng rộng rãi vắc xin này. Vắc-xin mRNA chính là một cuộc cách mạng về công nghệ, mở ra được con đường để loài người chúng ta có thể sản xuất ra được rất nhiều loại vắc xin để đối phó với các dịch bệnh nhiễm trùng trong tương lai nhờ rút ngắn được con đường chế tạo ra vắc xin cũng như rất linh hoạt để có những vắc xin kịp thời đối phó với các biến thể của các tác nhân vi sinh gây bệnh.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Làm thế nào vắc-xin tạo được miễn dịch bảo vệ?

Miễn dịch bảo vệ là sự đề kháng của chính cơ thể chống được sự xâm nhập của vi sinh vật gây bệnh vào cơ thể, chống được sự tăng sinh hay nhân lên trong cơ thể và chống lại được khả năng sinh bệnh hay còn được gọi là độc lực của tác nhân vi sinh gây bệnh. Miễn dịch bảo vệ của cơ thể có hai loại là miễn dịch bảo vệ không đặc hiệu và miễn dịch bảo vệ đặc hiệu. Miễn dịch bảo vệ không đặc hiệu lúc nào cũng hiện diện sẵn sàng trong cơ thể nhưng có khi không đủ mạnh để thắng được tác nhân gây bệnh, chính vì vậy nên cơ thể chúng ta có thêm miễn dịch bảo vệ đặc hiệu. Miễn dịch bảo vệ đặc hiệu mạnh hơn miễn dịch bảo vệ không đặc hiệu rất nhiều vì đây là miễn dịch chuyên biệt chống tại một tác nhân gây bệnh nào đó mà hệ thống miễn dịch của cơ thể đã từng gặp trước đó. Chính vì vậy cơ chế hoạt động của vắc-xin chính là kích thích hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo ra được miễn dịch bảo vệ đặc hiệu.

Cơ chế hoạt động của vắc xin ngừa COVID-19 là các protein S có trong vắc-xin (vắc xin protein tái tổ hợp hay vắc xin vi rút SARS-CoV-2 bất hoạt) hoặc được tế bào cơ thể tạo ra do chích vắc-xin (vắc xin DNA hay vắc-xin mRNA) sẽ được các tế bào tua thực bào rồi trình diện cho các tế bào T (là tế bào TH hay T giúp đỡ) để kích hoạt chúng và giúp biệt hóa một số thành tế bào nhớ, đồng thời các tế bào lympho B mà trên bề mặt có sẵn những thụ thể nhận diện được protein S cũng tóm bắt các protein S này rồi xử lý và trình diện đến các tế bào TH đã bị tế bào tua kích hoạt. Do sự trình diện protein S của lympho B đến tế bào TH mà các tế bào lympho B này sẽ được các cytokine sản xuất từ tế bào lympho TH kích hoạt biến thành các tế bào plasma sản xuất kháng thể đồng thời một số sẽ biến thành tế bào “lympho B nhớ” phân tán đến các cơ quan lympho và các mô. Trong lần tiếp xúc đầu tiên của tế bào lympho B với các protein S thì các tế bào plasma sản xuất các kháng thể thuộc lớp IgM và lớp kháng thể này sẽ không tồn tại lâu vì dễ bị phân rã và do các tế bào plasma sản xuất các IgM này có đời sống khá ngắn. Tuy nhiên nhờ các protein S vẫn còn tồn tại nên lại bị các tế bào nhớ tóm bắt rồi trình diện cho tế bào TH để giúp biệt hóa thành các tế bào plasma tạo ra kháng thể và lúc này kháng thể được tạo ra là thuộc lớp IgG có nồng độ cao hơn và tồn tại lâu hơn đồng thời nhiều tế bào nhớ cũng được tạo ra hơn. Với mũi vắc-xin được chích nhắc lại lần hai thì lúc này các tế bào lympho B nhận diện được protein S sẽ chủ yếu là lympho B nhớ với số lượng nhiều hơn rất nhiều so với  lần đầu, do vậy mà số lượng biệt hóa thành tế bào plasma sẽ nhiều hơn mũi chích đầu và kháng thể IgG được tạo ra sẽ có nồng độ cao hơn rất nhiều và kéo dài hơn. Nhờ vậy mà lần đáp ứng miễn dịch của mũi chích vắc-xin lần 2 sẽ có nhiều tế bào lympho B biệt hóa thành nhiều tế bào nhớ hơn lần đầu, do vậy mà không chỉ cơ thể có lượng kháng thể bảo vệ nhiều hơn để chống lại sự xâm nhập của tác nhân SARS-CoV-2 mà còn có nhiều tế bào nhớ hơn sẽ được huy động một khi tác nhân vi rút xâm nhập vào cơ thể.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Có mấy câu hỏi được đặt ra về cơ chế hoạt động của vắc-xin, đó là:

Tiêm vắc-xin ngừa COVID-19 rồi thì có ngừa được nguy cơ nhiễm bệnh không?

Đối với câu hỏi này thì câu trả lời là không thể tuyệt đối, nhưng chắc chắn sẽ giúp giảm nguy cơ nhiễm bệnh. Không chỉ vậy người được tiêm vắc-xin nếu bị nhiễm bệnh thì sẽ không bị bệnh nặng hay thậm chí không có triệu chứng và cũng sẽ khó thể lây bệnh cho người khác (bảng 1). Các nghiên cứu lâm sàng phase III của các vắc-xin Pfizer, Moderna hay nhiều vắc-xin khác đều cho thấy người được tiêm vắc-xin là có xác suất cao được bảo vệ không bị nhiễm tác nhân gây bệnh hơn là người không tiêm vắc-xin. Dựa vào các dữ liệu này mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra được con số về hiệu quả của vắc-xin. Vừa qua chúng ta đã có một minh chứng cụ thể, đó là Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới TP. Hồ Chí Minh với trên 900 nhân viên nhưng có đến 55 nhân viên mắc COVID-19 dù rằng tất cả đều tiêm đủ hai mũi vắc-xin AstraZeneca. Đặc điểm của các trường hợp nhiễm SARS-CoV-2 này là tất cả đều không có triệu chứng, đồng thời lượng virus phát hiện không cao như là các trường hợp nhiễm ngoài cộng đồng. Minh chứng này cho thấy dù chích vắc-xin vẫn không tuyệt đối ngừa được nhiễm SARS-COV-2, nhưng giúp cho người nhiễm không bị biểu hiện bệnh và đồng thời sẽ làm cho tác nhân gây bệnh giảm đi khả năng lây lan.

Chích vắc-xin ngừa COVID-19 hiệu quả được trong bao lâu?

Hiệu quả bảo vệ của chích vắc-xin là đến từ hai nguồn. Nguồn thứ nhất là từ lượng kháng thể lớp IgG đặc hiệu protein gai của virus với đặc điểm là tăng rất cao và kéo dài, có thể trong nhiều năm (vì chính bản thân kháng thể lớp IgG tồn tại được trong huyết thanh người là khá lâu và vì tế bào plasma tạo kháng thể lớp IgG này là có nguồn gốc từ tế bào lympho B nhớ, cũng có đời sống dài hơn là tế bào plasma tạo kháng thể thuộc lớp IgM là có nguồn gốc từ tế bào lympho B mới gặp kháng nguyên lần đầu, không phải là tế bào nhớ).  Nguồn thứ hai rất quan trọng là đội ngũ rất nhiều tế bào lympho B nhớ được thành lập nhờ mũi chích vắc-xin lần 2 đã tỏa đi khắp các cơ quan lympho như lách, tủy xương, hạch bạch huyết để sẵn sàng nhận diện được tác nhân gây bệnh nếu chúng xâm nhập vào cơ thể. Các tế bào nhớ này sẽ ngay lập tức hành động bằng cách tóm bắt và trình diện tác nhân gây bệnh đến các tế bào lympho T giúp đỡ để được kích hoạt thành các tế bào plasma tạo ra kháng thể lớp IgG ngăn chận tác nhân gây bệnh xâm nhập vào tế bào, vì vũ khí mà tác nhân SARS-CoV-2 xâm nhập vào được tế bào chính là các protein gai đã bị các kháng thể khóa mất rồi. Trong cả hai nguồn này thì nguồn kháng thể có được sau chủng ngừa vắc-xin sẽ phát huy hiệu quả tức thời khi có sự xâm nhập của tác nhân gây bệnh còn nguồn tế bào nhớ phát huy tác dụng ngay sau đó. Nhưng nguồn tế bào nhớ này lại rất bền vững vì cho dù nguồn kháng thể có xuống thấp hay biến mất đi nữa thì nguồn tế bào nhớ vẫn còn lâu dài và được huy động ngay khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể. Chính vì vậy mà cho dù lượng kháng thể bảo vệ trong huyết thanh của người có xuống thấp dưới ngưỡng bảo vệ thì người được chích ngừa vắc-xin vẫn được bảo vệ khỏi tác nhân SARS-CoV-2. Điều này cũng đã được các nhà khoa học chứng minh khi phát hiện được các tế bào nhớ nằm trong vùng mầm trung tâm của cơ quan lympho có đời sống rất dài, thậm chí suốt đời.

Bao lâu sau khi chích vắc-xin thì cơ thể sẽ được bảo vệ?

Đối với vắc-xin chỉ cần một mũi chích như vắc-xin của Johnson&Johnson (J&J) thì chỉ hai tuần sau khi chích là đã có đủ kháng thể bảo vệ. Đối với các vắc-xin mRNA (Pfizer hay Moderna) thì các nghiên cứu cho thấy hai tuần sau mũi chích thứ hai thì cơ thể sẽ có đủ kháng thể bảo vệ. Với vắc-xin của AstraZeneca thì 3 tuần sau mũi chích thứ nhất là cơ thể có kháng thể bảo vệ, nhưng phải hai tuần sau mũi chích thứ hai (cách mũi chích đầu 2 đến 3 tháng) thì sẽ có đủ kháng thể bảo vệ. Nói chung với hầu hết các loại vắc-xin thì chỉ cần 2 tuần sau mũi chích cuối cùng là cơ thể có đủ kháng thể bảo vệ. Cho đến ngày hôm nay người ta cũng chưa thể có dữ liệu chính xác là vắc-xin tạo ra kháng thể bảo vệ duy trì đến bao lâu, nhưng như đã trả lời trong câu hỏi (2) thì cho dù kháng thể bảo vệ có xuống thấp đi nữa thì vẫn còn sẵn tế bào nhớ để thiết lập lại bảo vệ ngay sau khi tác nhân xâm nhập vào cơ thể.

Chích ngừa vắc-xin ngừa COVID-19 thì có được miễn dịch bảo vệ còn bị lây nhiễm bệnh tự nhiên thì có tạo được miễn dịch bảo vệ không?

Nhiễm COVID-19 thì chắc chắn cơ thể sẽ tạo được miễn dịch bảo vệ, tuy nhiên còn tùy thuộc vào tuổi và mức độ nặng nhẹ của triệu chứng. Trung bình thì 4 tuần sau khi bị nhiễm bệnh là 90 – 99% người nhiễm hình thành được miễn dịch bảo vệ và có thể duy trì được trong 6-8 tháng. Tuy nhiên cũng như đã nói ở phần trả lời câu 2 thì miễn dịch bảo vệ sẽ rất lâu dài vì cái gốc chính là các tế bào nhớ tồn tại rất lâu. Ngoài ra đối với COVID-19, miễn dịch bảo vệ sau khi nhiễm bệnh là có thể miễn dịch luôn cả những biến thể mới vì miễn dịch bảo vệ sau khi nhiễm bệnh là có đủ các miễn dịch không chỉ đối với protein gai mà cả đối với các thành phần khác của vi rút như các nucleo-protein (protein N) và các protein này cũng có thể kích hoạt miễn dịch bảo vệ và có thể ít bị biến đổi hơn các protein S trong các biến thể mới của vi rút.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Quy trình chuẩn để chế tạo vắc-xin

Quy trình để chế tạo một vắc-xin là phải qua tối thiểu 3 phase.

  1. Phase I chính là phase thử trên động vật thí nghiệm để xem chúng có tạo ra kháng thể bảo vệ hay không? Kháng thể bảo vệ được chứng minh bằng hai cách. Cách 1 là thử trên các cấy tế bào để xem các cấy tế bào có khả năng được bảo vệ không bị tàn phá khi cho nhiễm tác nhân vi sinh gây bệnh hay không? Cách 2 là thử trên động vật nhạy cảm với tác nhân gây bệnh để xem kháng thể tạo ra có bảo vệ động vật nhạy cảm không bị nhiễm hay bị bệnh khi cho thách thức với liều gây nhiễm tác nhân gây bệnh.
  2. Phase II là thử nghiệm trên người để nhắm 3 mục đích là (1) dò liều, (2) Tính an toàn và (3) là đáp ứng miễn dịch qua lượng kháng thể đặc hiệu có được sau khi chích đủ liều vắc-xin. Pha này đòi hỏi phải chọn các đối tượng đồng nhất (thuần tập) để tránh các yếu tố gây nhiễu và có thể thử trên số lượng từ vài trăm đến vài chục ngàn.
  3. Phase III là phase công phu và tốn kém nhất quyết định thành bại của vắc-xin. Đó là phase thử hiệu quả bảo vệ thật sự của vắc-xin. Thường giải pháp thử nghiệm phải là mù đôi trên hai nhóm có chích vắc-xin thật sự và chích vắc-xin giả dược để xem hiệu quả bảo vệ không bị nhiễm bệnh trên hai nhóm có khác nhau không. Hiệu quả bảo vệ được tính là xác suất để người được tiêm vắc-xin có thể được bảo vệ không bị nhiễm tác nhân gây bệnh là bao nhiêu phần trăm. Lấy ví dụ như sau để chúng ta hiểu rõ cách tính. Pfizer thử vắc-xin Pfizer BioTech trên 43.661 người tình nguyện và chia đều thành hai nhóm 50/50 được chích vắc-xin và được chích giả dược. Sau hai mũi chích như hoạch định, nhóm chích vắc-xin có 8 người nhiễm COVID-19, còn nhóm chích giả dược thì có 162 người. Như vậy là tỷ lệ người chích giả được bị nhiễm là 0.74%, còn tỷ lệ người chích vắc-xin bị nhiễm là 0.037%. Hiệu quả vắc-xin được tính là 1-(0.037/0.74) là bằng 95%. Phase III còn ghi nhận các biến chứng liên quan trực tiếp đến chích vắc-xin, nếu được coi là trầm trọng và thực sự có liên quan trực tiếp đến vắc-xin thì công trình vắc-xin coi như trở về số 0. Hiện nay vắc-xin của Oxford, Pfizer và Moderna đã qua phase III và đã được các giới thẩm quyền phê duyệt. Vắc-xin của Nga và của Trung Quốc cũng được báo cáo qua phase III và cũng được các quốc gia sở tại phê duyệt.
  4. Sau phase III thì còn thêm phase IV nữa là theo dõi độ an toàn của vắc-xin trong quá trình sử dụng trên thực tế. Cũng như phase III, nếu có bất cứ một hậu quả trầm trọng nào gây ra trên người được chích vắc-xin và được xác định là do vắc-xin gây ra thì lô vắc-xin ấy phải bị tiêu hủy và vắc-xin đó phải được đánh giá lại và có thể phải ngưng sử dụng nếu hậu quả liên quan đến bản chất của vắc-xin chứ không phải do khác biệt lô sản xuất.

Như vậy là chúng ta thấy rằng, để có được vắc-xin thì chắc chắn phải cần nhiều thời gian, công sức cũng như tốn kém. Đối với các dịch xảy ra nhanh, số lượng người nhiễm nhiều như COVID-19 thì thời gian có thể nhanh nhưng cũng không thể dưới 1 năm. Tuy nhiên với các dịch cho dù trầm trọng nhưng số người nhiễm không cao và không lan rộng thì sẽ đòi hỏi thời gian dài hơn, đặc biệt là phase III. Bằng giài pháp kỹ thuật, cũng như là tổ chức thực hiện, ví dụ với vắc-xin mRNA hay vắc-xin protein tái tổ hợp thì việc rút ngắn thời gian nghiên cứu phase I và II là tương đối dễ dàng. Riêng phase III thì tùy thuộc vào dịch xảy ra nhiều hay ít vì cần phải có đủ số lượng người tham gia thử nghiệm mới đánh giá được hiệu quả của vắc-xin. Tuy nhiên với những dịch bệnh lây lan nhanh như COVID-19 hiện nay thì vẫn có giải pháp để trả lời được câu hỏi là kháng thể của người được chích vắc-xin ở phase II hay phase III có hiệu quả bảo vệ hay không bằng cách thu lấy huyết thanh của người được chích ngừa rồi thử hiệu quả bảo vệ trên cấy tế bào hay trên súc vật thí nghiệm và tiêu chuẩn này cũng đã được WHO chấp nhận. Về độ an toàn thì thật sự đã qua phase III cũng chưa chắc đủ an toàn. Chính vậy cho nên việc xét duyệt nhanh vắc-xin trong những trường hợp khẩn cấp không thể chỉ hoàn toàn dựa vào dữ liệu khoa học mà phải dựa vào sự cân nhắc về thiệt hại mà dịch bệnh gây ra với các lợi ích của vắc-xin mang lại để quyết định.

 

So sánh các vắc-xin hiện nay

  1. Hiệu quả của vắc-xin:

Hiệu quả của vắc-xin là xác suất để người được tiêm vắc-xin không bị nhiễm bệnh. Điều này có nghĩa là người tiêm vắc-xin vẫn có thể bị nhiễm bệnh nhưng nguy cơ sẽ thấp hơn người không tiêm vắc-xin nếu vắc-xin ấy có hiệu quả cao. Tuy nhiên cũng có phương pháp tính hiệu quả vắc-xin là phải tính xác suất để một người tiêm vắc-xin không bị bệnh, có nghĩa là người ta sẽ không kể những người nhiễm bệnh không biểu hiện triệu chứng. Do có hai phương pháp đánh giá khác nhau nên cũng khó có thể nói lên được sự so sánh về hiệu quả của các vắc-xin ngừa COVID-19 hiện đang được các hãng sản xuất. Biểu đồ 1 trình bày hiệu quả của một số vắc-xin thông thường hiện nay thế giới đang sử dụng so với các vắc-xin ngừa COVID-19. Số liệu trình bày là từ các nguồn lấy từ CDC, Moderna, Pfizer, các cơ quan thẩm quyền của Nga và Trung Quốc. Phân tích biểu đồ 1 này chúng ta thấy hiệu quả của các vắc-xin ngừa rubella và bại liệt là cao nhất, trong khi các vắc-xin ngừa cúm mùa là thay đổi từ 19% đến 60% tùy năm. Các vắc-xin ngừa COVID-19 có hiệu quả cao hơn vắc-xin ngừa cúm mùa, trong đó vắc-xin mRNA của Moderna và Pfizer có hiệu quả cao nhất theo thứ tự là 94.1% và 95%, vắc-xin DNA của Nga (Sputnik V) đạt hiệu quả 92%, vắc-xin của AstraZeneca đạt hiệu quả từ 62%-90% tùy phương pháp đánh giá, còn vắc-xin Sinopharm của Trung Quốc có hiệu quả đạt 79.3%. Có ba vắc-xin không có trong biểu đồ 1 thì cũng đã có báo cáo hiệu quả, đó là Novavax (protein tái tổ hợp sản xuất từ tế bào bướm đêm) đạt hiệu quả 89%, Sinovac của Trung Quốc đạt hiệu quả 50-83% và vắc-xin của Johnson&Johnson đạt hiệu quả 66-72%.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19
Biểu đồ 1: Hiệu quả của các vắc-xin thông thường và hiệu quả của các vắc-xin ngừa COVID-19.

Biểu đồ trên là hiệu quả của vắc-xin giúp ngừa nhiễm bệnh. Bảng 1 dưới đây cho biết hiệu quả ngăn ngừa nhiễm COVID-19 có triệu chứng và ngăn ngừa nhiễm COVID-19 nặng của các loại vắc-xin ngừa COVID hiện nay. Theo đó chúng ta thấy đa số các vắc-xin bảo vệ được 100% không bị nhiễm COVID-19 nặng.

Bảng 1: Hiệu quả ngăn COVID-19 có triệu chứng và ngừa nhiễm COVID-19 nặng của các loại vắc-xin hiện nay:

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19
Bảng 1: Hiệu quả ngăn COVID-19 có triệu chứng và ngừa nhiễm COVID-19 nặng của các loại vắc-xin hiện nay.
  1. Tác dụng không mong muốn:

Tác dụng phụ không mong muốn mà người ta lo ngại nhất, mặc dù rất hiếm xảy ra, là cơ thể của người được chích vắc-xin bị dị ứng với một vài thành phần có trong vắc-xin và sự dị ứng này có thể nghiêm trọng nếu dẫn đến sốc phản vệ. Dù tác dụng phụ không mong muốn này rất hiếm khi xảy ra và có thể gặp trên hầu hết các vắc-xin chích khác, nhưng trước khi chích vắc-xin thì người được chích phải được đánh giá qua khám sàng lọc trước khi tiêm vắc-xin và theo dõi sau tiêm vắc-xin. Vắc-xin càng tinh khiết (tức là chỉ chứa kháng nguyên kích thích được miễn dịch bảo vệ) thì càng ít tác dụng không mong muốn này nhất. Chính vậy có thể nói vắc-xin mRNA là ít có nguy cơ tác dụng phụ nhất. Tuy nhiên vắc-xin mRNA cũng có một tác dụng phụ không mong muốn là có thể gây viêm cơ tim mà cơ chế là do phản ứng miễn dịch bất lợi cho cơ thể, được hình thành sau khi chích vắc-xin. Cho đến hiện nay, tác dụng này được ghi nhận là rất hiếm.

Vắc-xin chứa vi rút SARS-CoV-2 bị bất hoạt có thể còn chứa các thành phần nuôi cấy vi rút mà không thể loại bỏ được hết, bản thân các thành phần khác của vi rút bất hoạt cũng có thể tạo ra các tác dụng phụ không mong muốn là dị ứng như đã nói ở trên. Ngoài ra, mặc dù hiện nay các nhà sản xuất thường dùng BPL (beta-propolactone) để bất hoạt vi rút nhằm tránh nguy cơ làm hư hại cấu trúc protein của vắc-xin nhưng lượng BPL được sử dụng phải đảm bảo làm bất hoạt được vi rút vì nếu không thì vẫn còn mầm bệnh sống trong vắc-xin; Đồng thời phải đảm bảo vắc-xin vẫn hiệu quả, không bị hư hại thành phần chính của nó. Ngoài ra, sau khi bất hoạt được virus thì người ta phải loại bỏ BPL bằng cách làm bốc hơi chất này ra khỏi vắc-xin vì nguy cơ PBL có thể là chất gây ung thư. Do vậy mà quá trình sản xuất vắc-xin bất hoạt phải kiểm soát chặt chẽ lượng BPL khi bất hoạt và sau khi bất hoạt vì nếu không sẽ có những tác dụng phụ không mong muốn.

Vắc-xin DNA dùng adenovirus làm vector để chuyển DNA mã hóa protein S vào tế bào cũng có thể có những tác dụng phụ không mong muốn. Những tác dụng phụ không mong muốn này có thể do thành phần khi nuôi cấy các vector mà quá trình tinh sạch vẫn chưa loại trừ hết. Tác dụng phụ không mong muốn cũng có thể từ bản thân của các vector. Cụ thể là mặc dù adenovirus được sử dụng làm vector vận chuyển DNA là thuộc type 5 và 26 (Sputnik dùng type 5 và 26, Johnson&Johnson dùng type 26) là hai serotype chỉ gây bệnh rất nhẹ cho người, hay có nguồn gốc từ dã nhân (AstraZeneca) được ghi nhận là không gây bệnh cho người, đồng thời gen E1 trên adenovirus đã bị xóa đi để vi rút không thể nhân bản khi chích vào người, nhưng trong quá trình adenovirus xâm nhập vào tế bào người cũng có thể gây ra các triệu chứng giống bị nhiễm siêu vi trên một số người như nhức đầu, nhức cơ, đau mình và sốt. Một tai biến được cho là có liên hệ với vắc-xin của AstraZeneca là đông máu giảm tiểu cầu ở tĩnh mạch não, phổi hay lách và có thể xảy ra ở thanh niên (thường là phụ nữ). Người ta cho rằng cơ chế có lẽ là do phản ứng miễn dịch bất lợi gây ra bởi vắc-xin nên người ta đặt tên tai biến này là VITT (Vaccine-induced immune thrombotic thrombocytopenia: Đông máu giảm tiểu cầu do cảm ứng miễn dịch bởi vắc-xin). Tuy nhiên tai biến này được xem là rất hiếm gặp và cũng có thể xảy ra ở các vắc-xin ngừa các bệnh khác chứ không chỉ riêng biệt cho vắc-xin DNA.

Vắc-xin protein S tái tổ hợp là được sản xuất từ tế bào nuôi cấy và được tinh chế để loại bỏ những thành phần khác do vậy có thể xem đây là một loại vắc-xin tinh khiết nếu quá trình sản xuất và tinh chế chặt chẽ và hoàn chỉnh. Có thể nói vắc-xin protein tái tổ hợp mà nhiều người còn gọi là tiểu đơn vị protein đã được triển khai trên rất nhiều loại vắc-xin khác và được ghi nhận là rất an toàn, do vậy nếu xếp loại về an toàn thì vắc-xin này có thể được xếp loại an toàn cao. Dù sao đi nữa thì mặc dù hiện chưa có những ghi nhận về tác dụng phụ không mong muốn nhưng các nhà khoa học cho là các tác dụng phụ do phản ứng miễn dịch bất lợi như viêm cơ tim, đông máu giảm tiểu cầu vẫn có thể xảy ra và nên được theo dõi.

  1. Sự dễ dàng trong bảo quản và vận chuyển:

Nếu tính đến tính hữu dụng của một vắc-xin thì phải tính luôn cả sự dễ dàng trong bảo quản và vận chuyển đến những quốc gia đang phát triển và cả những vùng sâu và xa, vì có dễ dàng trong khâu này thì số người được chích vắc-xin mới được nhiều và miễn dịch cộng đồng mới mau đạt. Chính vì vậy, vắc-xin ngừa COVID-19 bằng công nghệ mRNA với yêu cầu vận chuyển và bảo quản ở nhiệt độ -70ºC hay thấp hơn (nếu đã rã đông thì phải bảo quản ờ nhiệt độ lạnh như các vắc-xin khác và thời gian bảo quản không thể lâu quá hơn 1-2 tuần) sẽ không thể được xem là vắc-xin hữu dụng cao. Các vắc-xin khác không phải là mRNA thì đều có thể bảo quản ở nhiệt độ lạnh như các vắc-xin thông thường, do vậy các vắc-xin này đều là những vắc-xin hữu dụng. Bảng 2 dưới đây trình bày các phương pháp bảo quản của các loại vắc-xin ngừa COVID-19 hiện nay.

Bảng 2: Điều kiện bảo quản các vắc-xin ngừa COVID-19 hiện nay.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19
Bảng 2: Điều kiện bảo quản các vắc-xin ngừa COVID-19 hiện nay.
  1. Giá thành của các vắc-xin:

Hiện nay nhiều quốc gia ưu tiên sử dụng vắc-xin ngừa COVID-19 để thoát khỏi dịch bệnh nên đã dùng ngân sách nhà nước để tài trợ chích vắc-xin. Ngoài ra cũng có nguồn tài trợ quốc tế trong cơ chế COVAX facility để tài trợ vắc-xin ngừa COVID-19 cho nhiều quốc gia và Việt Nam cũng là quốc gia được tham gia vào cơ chế này. Chính nhờ vậy mà chúng ta cũng có được nguồn vắc-xin miễn phí. Tuy nhiên số lượng tài trợ cũng không thể đủ cho mọi người nên chắc chắn sẽ cần phải có vắc-xin dịch vụ. Bảng 3 cho biết giá quốc tế hiện nay cho các loại vắc-xin ngừa COVID-19.

Bảng 3: Giá thành của một liều của các vắc-xin hiện nay trên thế giới.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19
Bảng 3: Giá thành của một liều của các vắc-xin hiện nay trên thế giới.

So về giá thành thì hiện nay vắc-xin Nano-Covax của Việt Nam sản xuất là thuộc loại rẻ, giá dự tính chỉ 5.2 USD.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Vắc-xin ngừa COVID-19 có đủ sức ngừa được các tác nhân SARS-CoV-2 bị biến thể không?

Trong quá trình lây truyền trên người, SARS-CoV-2 đã hình thành nên các đột biến để vi rút ngày càng lây truyền dễ dàng hơn và theo quy luật tiến hóa thì các vi rút lây truyền càng nhanh càng dễ thì sẽ dần dần thay thế các vi rút lây truyền chậm hơn trước đó. SARS-CoV-2 gây bệnh đầu tiên tại Vũ Hán là dòng nguyên thủy tuy nhiên sau khi lan qua Âu Châu thì vi rút đã có biến đổi đầu tiên trên gen S, hình thành nên đột biến D614G, tại vị trí codon 614 của gen S thay vì là aspartic acid (D) lại bị thay thế bằng Glycine (G) làm cho vùng bám thụ thể (RBD) của protein gai mở rộng ra hơn nên giúp cho vi rút bám vào thụ thể ACE2 dễ hơn và chặt chẽ hơn. Chính vì vậy mà biến chủng này, gọi là chủng G, đã thay thế hoàn toàn chủng D trước đó. Vụ dịch tại Đà Nẵng vừa qua cũng là do chủng G này gây ra. Thật ra thì đột biến D614G đã xuất hiện rải rác tại Vũ Hán nhưng khi lan qua Châu Âu thì tỷ lệ xuất hiện đã tăng lên đến 20% các chủng và đến tháng 6 đã chiếm 100% các chủng với hậu quả là tạo ra các làn sóng lây nhiễm không chỉ tại Mỹ, các nước Châu Âu mà rất nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam vụ dịch xảy ra tại Đà Nẵng vào tháng 7 năm 2020 cũng là do SARS-CoV2 mang đột biến này gây ra.

Nhờ giải trình tự bộ gen của SARS-CoV-2 liên tục mà cho đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra nhiều biến thể của vi rút đang lưu hành với xuất phát ban đầu có thể từ một số quốc gia. Đó là biến thể Alpha (còn gọi là B.1.1.7) xuất phát từ Anh Quốc từ tháng 12 năm 2020, lây lan nhanh hơn 82% so với vi rút ban đầu; Biến thể Beta (B.1.351) xuất phát từ Nam Phi cũng từ tháng 12/2020 có tốc độ lây lan nhanh hơn 50%; Biến thể Gamma (P.1) xuất phát từ Brazil từ tháng 1/2021 có tốc độ lây lan nhanh hơn 161%; Biến thể Epsilon (B.1.429 và B.1.427) xuất phát từ Hoa Kỳ từ tháng 3/2020 có tốc độ lây lan nhanh hơn 20%; Biến thể Delta (B.1.617.2) xuất phát từ Ấn Độ từ tháng 4 năm 2021 có tốc độ lây lan nhanh nhất, hơn 198% so với chủng ban đầu và biến thể này chính là biến thể không chỉ hoành hành tại Ấn Độ mà cả các quốc gia Đông Nam Á hiện nay. Ngoài ra còn có bốn biến thể khác nữa là Kappa (B.1.617.1) xuất phát từ Ấn độ, Eta (B.1.525) xuất phát từ Nigeria, Iota (B.1.526) xuất phát từ Hoa Kỳ và Zeta (P2) xuất phát từ Brazil hiện đang được điều tra thêm, đặc biệt là các nguy cơ kháng được kháng thể đặc hiệu. Các biến thể này có một đặc điểm chung là đều mang đột biến D614G làm cho vùng bám thụ thể trên protein gai của vi rút mở rộng ra hơn, nhờ vậy mà vi rút dễ dàng lây nhiễm hơn. Ngoài đột biến D614G, các biến thể còn có thể thêm một số đột biến trên một số codon ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên lên cấu trúc vùng bám thụ thể của protein gai của vi rút và chính các đột biến này đã làm tăng khả năng lây nhiễm (như đột biến N501Y, E484K…) hay đột biến có thể giúp vi rút kháng lại hiệu quả huyết thanh điều trị và có thể gia tăng nguy cơ vi rút trốn thoát miễn dịch bảo vệ của người do chủng ngừa (đột biến E484K, K417N/T, L452R…).

Như vậy thì rõ ràng là SARS-COV-2 trong quá trình lây truyền trên người rất dễ bị đột biến để giúp chúng lây lan nhanh hơn và chúng ta có thể tiên đoán được là SARS-COV-2 sẽ biến đổi để trốn thoát miễn dịch bảo vệ của cơ thể được tạo ra do vắc-xin. Cơ chế này cũng giống như cơ chế biến đổi kháng nguyên của vi rút cúm và như vậy thì chắc chắn là vắc-xin ngừa COVID-19 cũng sẽ phải được thay đổi hàng năm như vắc-xin ngừa cúm. Điều này đặt ra thách thức cho các nhà sản xuất vắc-xin là phải linh hoạt thay đổi tính kháng nguyên trong thành phần chính của vắc-xin để kịp với sự thay đổi của vi rút. Như vậy thì công nghệ nào là linh hoạt nhất trong sản xuất vắc-xin ngừa COVID-19 sẽ là công nghệ đáp ứng được sự biến đổi của SARS-CoV-2. Xem xét 4 công nghệ mà chúng ta đã biết thì công nghệ vắc-xin mRNA là linh hoạt nhất, kế đó là công nghệ vắc-xin protein tái tổ hợp vì nhà sản xuất chỉ cần thông qua các thuật toán và theo dõi các kết quả giải trình tự sẽ dự báo được các biến đổi trên gen S, đặc biệt là vùng bám thụ thể (RBD) trên protein S của vi rút. Với dự báo này họ sẽ sớm chỉnh sửa trình tự mRNA hay cấu trúc protein của vùng RBD nhờ vậy mà sẽ sớm ra các sản phẩm vắc-xin phù hợp. Tuy nhiên với các vắc-xin được lưu hành hiện nay thì vẫn chưa có báo cáo cho thấy hiệu quả của vắc-xin bị giảm đi nhiều trong ngừa COVID-19 gây ra bởi các biến thể mới.

Vắc-xin - Con đường duy nhất để thoát khỏi đại dịch Covid-19

Nên lựa vắc-xin nào để chủng ngừa COVID-19

Để chọn vắc-xin thì phải đánh giá một cách tổng hợp cả hiệu quả, giá thành, tính hữu dụng và tác dụng phụ. Về hiệu quả thì phải nói là các số liệu được đưa ra cũng có sự khác biệt nên khó có thể so sánh do các phương pháp đánh giá khác nhau. Một vắc-xin khi được đưa ra thì rõ ràng các tác dụng phụ không mong muốn đều được đánh giá là rất hiếm. Như vậy thì chỉ còn giá thành và tính hữu dụng, đặc biệt nhất là ở các quốc gia đang phát triển và kinh tế còn thấp thì hai tiêu chí này nên được cân nhắc ưu tiên. Vắc-xin càng hữu dụng và giá thành càng rẻ thì càng nên ưu tiên.

Hiện nay việc cấp bách là phải làm sao để dân số Việt Nam chúng ta càng có nhiều người được chích ngừa và càng sớm được chích ngừa càng tốt. Chúng ta nên khách quan trong đánh giá, không nên có thành kiến trong lựa chọn. Trung Quốc với Sinopharm và Sinovac đã giúp khống chế được đại dịch, Anh Quốc và Châu Âu với AstraZeneca và Pfizer. Mỹ với Pfizer và Moderna, Nga với Sputnik V cũng đã khống chế được đại dịch. Các quốc gia đã khống chế được đại dịch, đặc biệt là giảm đi đáng kể các trường hợp mắc COVID-19 phải nhập viện, nên đều dần đưa cuộc sống trở lại bình thường. EURO 2020 với các sân vận động đầy nghẹt người đã minh chứng cho điều đó.

Hiện nay có hai ý kiến trái chiều về việc có nên cấp phép lưu hành khẩn cấp cho vắc-xin Nano-Covax của Nanogen hay không? Về vấn đề này tôi xin có ý kiến như sau:

Xét về mặt học thuật thì một vắc-xin muốn được cấp phép lưu hành thì phải qua đủ 3 phase là I, II và III; Trong đó phase III là đặc biệt quan trọng để đánh giá hiệu quả và an toàn và phải tiến hành trên số đông người tham gia thử nghiệm. Nano-Covax đã qua được hai phase và cũng đã bắt đầu phase III với trên ngàn người. Kết quả phase I và phase II là tuyệt đối tốt, đặc biệt phase II chứng minh người được chích ngừa sinh miễn dịch rất mạnh. Riêng về tính an toàn thì Nano-Covax được ghi nhận là không hề có tác dụng phụ trên người chính thử nghiệm ở phase II và phase III. Các huyết thanh người được chủng ngừa ở phase II và phase III cũng đã được đánh giá là có hiệu quả bảo vệ dựa trên khả năng trung hòa không cho SARS-CoV-2 gây nhiễm tế bào. Như vậy thì hiệu quả bảo vệ cũng đã được đánh giá theo như tiêu chí của WHO đã đưa ra trong trường hợp xét duyệt khẩn cấp vắc-xin.

Thật ra tiêu chuẩn học thuật phải qua ba phase I, II, và III để cấp phép lưu hành vắc-xin là chỉ áp dụng cho các bệnh nhiễm trùng đã có vắc-xin rồi và vắc-xin đang xin cấp phép là một vắc-xin mới, hay là vắc-xin để ngừa một bệnh nhiễm trùng chưa có tính lây lan cao và khẩn cấp. Với bệnh nhiễm trùng lây lan cao thành đại dịch thì nhà nước vẫn có thể cân nhắc lợi ích của vắc-xin mang lại với các thiệt hại mà dịch bệnh gây ra để cấp phép lưu hành khẩn cấp và trong khi sử dụng sẽ tiếp tục thực hiện nghiên cứu phase III. Các vắc-xin Sputnik V của Nga hay các vắc-xin nội địa của Ấn Độ hay Cuba cũng được cho phép lưu hành trong những tình huống như vậy.

Xem lại tình trạng thực tế hiện nay của chúng ta, dịch bệnh đang lưu hành ngày càng nhiều. Thiệt hại kinh tế do phải cách ly, truy vết ngày càng nặng nề. Nếu tiếp cận thực tế đời thường chúng ta sẽ thấy bao nhiêu cảnh đời khốn khổ vì dịch bệnh và vì các biện pháp chống dịch mà chúng ta phải đưa ra. Chính vì vậy vắc-xin là một giải pháp duy nhất giúp chúng ta vượt qua được dịch bệnh. Hiện nay, tình hình vắc-xin ngừa COVID-19 trên thế giới thì cầu nhiều hơn cung rất nhiều lần. Do vậy mà làm sao chúng ta lại phải chờ đợi? Làm sao mà chúng ta hy vọng có đủ vắc-xin cho đất nước của mình. Chúng ta có thể ví như đang ở sa mạc khô cằn và ai cũng khát nước trong khi đó có một hố nước trong bên đường mà chúng ta lại không chịu uống vì cho là chưa được kiểm định xem có thật sự an tòan không? Tình huống như vậy có vô lý không các bạn? Chính vì vậy tôi rất ủng hộ việc cấp phép sử dụng khẩn cấp vắc-xin Nano-Covax không phải vì đây là sản phẩm Việt Nam mang tự hào Việt Nam, mà đây là vắc-xin thật sự hiệu quả – an toàn và đất nước chúng ta thật sự cần có nó.

Xin đưa ra đây ý kiến của một chuyên gia là TS. Nguyễn Hữu Huân để chúng ta có thể tham khảo: “Tôi nghiên cứu về vắc-xin chống virus từ cách đây hơn 25 năm, bắt đầu tại đại học Alabama ở Birmingham, Hoa kỳ. Tôi đã công bố những công trình nghiên cứu khoa học độc lập liên quan trực tiếp đến những vắc-xin chống cúm https://journals.asm.org/doi/10.1128/jvi.00823-14, MERS http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/pmc3489719/ và virus đường ruột dựa trên nền tảng adenovirus phân lập từ người (một loại virus lành, nhiễm qua đường hô hấp gây cảm lạnh thông thường). Hiện tại tôi là giám đốc khoa học của công ty sản xuất kháng thể kháng virus, IGY Life Sciences https://www.igylifesciences.com/team và là GS thỉnh giảng ĐH Arizona. Tôi không có bất cứ mối liên hệ tài chính hay kỹ thuật gì với công ty sản xuất vắc-xin AstraZeneca hay Nanocovax. Nhận định của tôi hoàn toàn dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khoa học đã qua bình duyệt của giới chuyên sâu và được đăng trên các tạp chí khoa học uy tín thế giới. Vắc-xin Nanocovax là loại vắc-xin dựa trên nền tảng protein tái tổ hợp (recombinant protein), một công nghệ đã được áp dụng hàng chục năm nay (như vắc-xin viêm gan B, có chiều dài thời gian về độ an toàn). Vắc-xin Novavax của Mỹ cũng dựa trên nền tảng này và cho kết quả thử nghiệm tốt. Vắc-xin Nanocovax đã qua thử nghiệm giai đoạn 1 (an toàn) và giai đoạn 2 (gây đáp ứng miễn dịch, cụ thể là kháng thể trung hòa virus). Kết quả 2 giai đoạn này được đánh giá tốt vì vậy hội đồng các chuyên gia đã cho phép tiến hành giai đoạn 3. Giai đoạn 3 là giai đoạn thử an toàn và tác dụng của vắc-xin trên diện rộng hàng chục nghìn người ở cộng đồng có tỷ lệ nhiễm Covid cao. Với tỷ lệ nhiễm Covid ở Việt Nam thấp so với thế giới như hiện nay, để hoàn tất giai đoạn 3 có thế phải mất ít nhất 8 tháng đến 1 năm hoặc lâu hơn nữa. Đây là thời gian khá dài chứa chấp nhiều rủi ro bùng phát dịch và tổn thất kinh tế nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đa số người trong xã hội. Tôi cho rằng việc cấp phép sử dụng khẩn cấp vắc-xin Nanocovax là việc nên làm vì những lý do sau đây: (i) Về cơ sở khoa học, các vắc-xin dựa trên công nghệ protein tái tổ hợp là an toàn. Thực tế cho thấy các vắc-xin dựa trên công nghệ này hiện đang lưu hành chứng minh điều đó. (ii) Kết quả thử nghiệm của các vắc-xin Covid đang được sử dụng trên thế giới đều cho thấy kết quả thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 phù hợp với kết quả giai đoạn 1 và 2 (tác dụng bảo vệ liên quan trực tiếp đến kháng thể trung hòa). Nanocovax tạo kháng thể trung hòa tốt (kết quả thử nghiệm giai đoạn 2 cho thấy). (iii) Theo thông tin trên trang điện tử của Nanogen, công ty có nhiều sản phẩm đang lưu hành được sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp dùng để tiêm tĩnh mạch. Đây là những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao Biosimilars (nanogenpharma.com). Vì vậy tôi tin Nanogen có thể sản xuất được nhiều và có chất lượng Nanocovax. (iv) Cho phép sử dụng khẩn cấp Nanocovax là cơ hội thành công cho Việt Nam trên lĩnh vực tự sản xuất được vắc-xin và tự khống chế được đại dịch. Tôi cho rằng sử dụng đại trà vắc-xin Nanocovax tại thời điểm hiện nay có thể có rủi ro nhỏ (nếu có thì thấp hơn các vắc-xin hiện đang lưu hành) nhưng lợi ích thì lớn”.

 

BS Phạm Hùng Vân

Theo Tạp chí sức khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Bản tin COVID-19 ngày 20.09

Bản tin COVID-19 ngày 20.09 Bản tin được Tạp Chí Sức Khỏe tổng hợp từ 20h 19.09 – 19h 20.09 1. DIỄN BIẾN DỊCH COVID-19 (ngày 20/09) Số ca nhiễm mới được công bố trong ngày: …

Bản tin COVID-19 ngày 19.09

Bản tin được Tạp Chí Sức Khỏe tổng hợp từ 20h 18.09 – 19h 19.09 DIỄN BIẾN DỊCH COVID-19 (ngày 19/09) Số ca nhiễm mới được công bố trong ngày: 10.040 ca , trong đó …

Làm thế nào để chăm sóc an toàn cho mẹ và bé trong đại dịch Covid-19?

Chiều ngày 17/09/2021, Bệnh viện Hùng Vương đã tổ chức buổi tọa đàm “Chăm sóc an toàn mẹ và bé trong đại dịch Covid-19” nhằm trang bị kiến thức bổ ích, chăm sóc mẹ và …

Bản tin COVID-19 ngày 18.09

Bản tin được Tạp Chí Sức Khỏe tổng hợp từ 20h 17.09 – 19h 18.09 DIỄN BIẾN DỊCH COVID-19 (ngày 18/09) Số ca nhiễm mới được công bố trong ngày: 9.373 ca , trong đó …

Vaccine Covid-19 Abdala của Cuba được Bộ Y tế phê duyệt

Bộ Y tế vừa có Quyết định số 4471/QĐ-BYT về việc phê duyệt có điều kiện vaccine Abdala cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Đây là vaccine thứ 8 được …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi