Ung thư trực tràng nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa

Ung thư trực tràng chiếm tỷ lệ cao trong ung thư đại trực tràng là một bệnh khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển. Tuy nhiên, trong các năm gần đây, bệnh đang có xu hướng tăng dần ở các nước đang phát triển và người ta cho rằng yếu tố môi trường, sinh hoạt và ăn uống… là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc ung thư trực tràng.

 

Ung thư trực tràng là ung thư phát triển từ đoạn xa của ruột già, thường hay gặp trong ung thư đường tiêu hoá, đứng hàng thứ 2 sau ung thư dạ dày, chiếm 1,4% trong tổng số ung thư và chiếm 40-66% trong tổng số ung thư đại trực tràng.

Tại Việt Nam, chưa có các thống kê đầy đủ toàn diện trên cả nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu điều tra tình hình mắc ung thư đại trực tràng tại 2 thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh đã cho thấy, ung thư đại trực tràng đã có chiều hướng gia tăng cho cả 2 giới, tuy nhiên nam gặp nhiều hơn nữ, tuổi trung bình từ 40-50 tuổi. Tại Hà Nội, ung thư đại trực tràng là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 cho cả 2 giới. Tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng ở nam và nữ tương ứng là 14,6/100.000 dân và 11,8/100.000 dân.

Nếu ung thư trực tràng được phát hiện sớm, điều trị triệt để thì tỉ lệ sống trên 5 năm có thể đạt 60-80%.

 

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư trực tràng và ung thư đại tràng

Địa lý và môi trường

  • Địa lý: Nghiên cứu trên thế giới cho thấy: Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng phụ thuộc vào vùng, miền, lãnh thổ và quốc gia khác nhau trên thế giới… Bệnh gặp nhiều ở các nước phương Tây, Mỹ, châu Âu và Úc… Bệnh đang có xu hướng tăng dần ở một số nước thuộc khu vực châu Á như: Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Việt Nam…
  • Môi trường: Một số nghiên cứu cho thấy người tiếp xúc thường xuyên với Amiăng làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng lên 1,5 -2 lần. Nghiên cứu khác thấy rằng, nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng tăng cao gấp đôi người bình thường ở những công nhân đúc kính ô tô và làm cốc thủy tinh. Công nhân trong xưởng gỗ có tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng cao hơn trong cộng đồng.

Tuổi, giới và chủng tộc

  • Tuổi: ung thư đại trực tràng có xu hướng tăng dần theo tuổi. Thống kê định kỳ tại Mỹ cho biết: Tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng sẽ chiếm dưới 2/100.000 dân ở người có tuổi < 35 và tăng lên 400/100.000 dân ở người có tuổi trên 85. Nếu gộp lại thì chỉ có 3% ung thư đại trực tràng xuất hiện trước tuổi 40.
  • Giới: Hầu hết các nghiên cứu đều thấy rằng nam giới mắc ung thư đại trực tràng nhiều hơn so với nữ giới và tỷ lệ này dao động trong khoảng 1,3-1,7 tùy thuộc vào từng nghiên cứu khác nhau.
  • Chủng tộc: Đã có nhiều nghiên cứu trình bày về chủng tộc có liên quan đến tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng. Tại Mỹ da trắng, da đen, người đảo Thái Bình Dương, người Tây Ban Nha, thổ dân da đỏ và thổ dân vùng Alaska thấy rằng người da đen có tỷ lệ mắc ung thư đại trực tràng và tỷ lệ tử vong do ung thư đại trực tràng chiếm cao nhất.

Chế độ ăn uống và các yếu tố khác

  • Các nghiên cứu cho thấy chế độ ăn giàu thịt đỏ, mỡ động vật làm thúc đẩy phát triển các chủng vi khuẩn tiết chất gây ung thư (carcinogen) vào trong lòng ruột và các muối mật cũng đóng góp vào quá trình này. Các chất béo trong thức ăn có nhiều sẽ gây tăng acid mật thứ phát, acid deoxycholic, acid lithocholic. Các acid này sẽ bị các vi khuẩn trong đại tràng chuyển hóa thành các chất gây ung thư đại trực tràng.
  • Một số yếu tố khác cũng góp phần tăng nguy cơ mắc ung thư đại trực tràng như: Béo phì, ít hoạt động, hút thuốc lá, nghiện rượu… Ngược lại, với những người ăn thức ăn giàu các vitamin (A, C, E…), các loại rau quả có tác dụng sẽ ngăn ngừa hoặc bất hoạt của các chất gây ung thư. Chế độ ăn nhiều chất xơ sẽ làm giảm ung thư, do chúng làm tăng khối lượng phân, pha loãng các chất gây ung thư, giúp đào thải nhanh, giảm thời gian cho các chất ung thư tiếp xúc với niêm mạc ruột…

Một số các bệnh di truyền với ung thư đại trực tràng

Ung thư đại trực tràng do di truyền (Hereditary colon cancer) đã được nghiên cứu rất tỉ mỉ. Số bệnh nhân ung thư đại trực tràng do di truyền chiếm khoảng 2-4% trong tổng số bệnh nhân mắc ung thư đại trực tràng. Nguy cơ hình thành ung thư đại trực tràng chiếm tỷ lệ 50% ở những thế hệ thứ nhất của gia đình bị ung thư đại trực tràng và thời gian xuất hiện ung thư đại trực tràng cũng sớm hơn từ 25-30 năm so với ung thư đại trực tràng không do di truyền.

Ung thư đại trực tràng do di truyền được chia thành 3 loại chính: Bệnh polyp tuyến gia đình, hội chứng Lynch và Hội chứng polyp tuyến Hamartomatous.

Triệu chứng ung thư trực tràng

  • Đi ngoài ra máu lẫn chất nhầy là triệu chứng thường gặp.
  • Rối loại thói quen đại tiện: phân táo bón, phân lỏng hoặc táo bón xen kẽ với phân lỏng từng đợt.
  • Các triệu chứng kích thích trực tràng (hội chứng trực tràng) như: đau quặn, mót rặn, cảm giác nặng tức ở hậu môn.
  • Thay đổi hình dạng phân: phân dẹt, phân nhỏ như chiếc đũa hay phân lỏng.
  • Thường gặp nhất bệnh nhân đến khám vì lý do đi cầu ra máu biểu hiện triệu chứng bệnh trĩ.
  • Thăm khám trực tràng có thể sờ thấy u cứng, bờ nham nhở, lòng trực tràng bị chít hẹp, dễ chảy máu, nếu u nằm gần hậu môn.
  • Nội soi trực tràng và đại tràng sigma quan trọng vì: phát hiện được khối u ở trên cao mà tay không sờ chạm, đánh giá đặc điểm và sinh thiết khối u chẩn đoán để lựa chọn một phương pháp điều trị thích hợp.

Các bệnh lý của đại trực tràng có nhiều triệu chứng trùng lấp. Vì

thế, cần nắm chắc các dấu hiệu báo động, để phát hiện kịp thời bệnh lý ung thư trực tràng.

 

Các dấu hiệu báo động

  • Tuổi lớn hơn hoặc bằng 45 tuổi.
  • Sụt cân không chủ ý (thường giảm trên 5% trọng lượng cơ thể trong vòng 6 tháng).
  • Rối loạn tiêu hóa kéo dài ở tuổi 40-50.
  • Thiếu máu.
  • Đi ngoài ra đàm nhớt máu; thay đổi hình dạng phân (dẹt hay nhỏ).
  • Khám bụng có u; hạch ổ bụng; có dịch ổ bụng.
  • Gia đình có cha, mẹ, anh em ruột bị ung thư đường tiêu hóa.

 

Điều trị

  • Giai đoạn sớm (chưa xâm lấn qua lớp cơ niêm): Điều trị bằng cắt hớt niêm mạc trực tràng.
  • Phẫu thuật khi:

Ung thư trực tràng chưa di căn xa.

Điều trị phẫu thuật: cắt khối u và nạo hạch.

  • Phối hợp hóa – xạ trị liệu.
  • Điều trị giảm nhẹ những trường hợp ung thư đến muộn, thể trạng yếu, đã di căn nhiều cơ quan lân cận hoặc di căn xa.

 

Phòng ngừa

Thực hiện lối sống lành mạnh.

  • Không ăn quá nhiều các loại thịt đỏ (thịt bò, thịt cừu).
  • Không uống các thức uống có chứa cồn.
  • Không hút thuốc lá.
  • Chế độ ăn ít mỡ động vật, nhiều chất xơ (rau xanh, trái cây).
  • Tăng cường hoạt động thể lực.

 

TS. BS Võ Hồng Minh Công

Trưởng khoa Nội Tiêu hóa

Bệnh viện Nhân dân Gia Định

Theo Tạp chí Sức Khỏe

 

 

 

Phản hồi của bạn

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi