Ung thư gan ở Việt Nam – tỷ lệ tử vong cao nhất thế giới

Ung thư gan xếp thứ ba trong nhóm ung thư gây tử vong nhiều nhất thế giới, chỉ sau ung thư phổi và ung thư dạ dày. Năm 2010, ước tính toàn cầu có khoảng 754.000 người tử vong do ung thư gan. Trung bình mỗi năm có thêm nửa triệu ca mắc mới. Hơn 80% số bệnh nhân ở các quốc gia châu Á và khu vực châu Phi cận Sahara. Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao nên có tỷ lệ ung thư gan cao. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca ung thư gan mới phát hiện, và khoảng 22.000 ca tử vong, tỷ lệ này cao nhất thế giới.

Dạng ung thư gan phổ biến nhất là Carcinom tế bào gan, chiếm đến 80%. Thực tế lâm sàng ghi nhận, nguyên nhân ung thư gan thường liên quan đến vi rút viêm gan B, vi rút viêm gan C gây tổn thương gan mạn tính dẫn đến xơ gan biến chứng, cuối cùng ung thư gan. Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghiện rượu, độc tố aflatoxin của nấm Aspergillus flavus trong ngũ cốc.

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch tễ có tỷ lệ viêm gan cao nên có tỷ lệ ung thư gan cao. Ước tính trung bình mỗi năm cả nước có trên 10.000 ca ung thư gan mới phát hiện và khoảng 22.000 ca tử vong, tỷ lệ này cao nhất thế giới. Điều tra dịch tễ cho thấy tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B và C lần lượt là 8,0 % và 2,7%. Tại Thành phố HCM, ung thư gan đứng thứ nhất trong số 10 loại ung thư thường gặp ở nam giới, thứ sáu ở nữ. Ở Hà Nội, ung thư gan đứng hàng thứ ba ở nam giới và thứ bảy ở nữ.

Ung thư gan bắt đầu từ trong các tế bào gan được gọi là ung thư gan nguyên phát. Ung thư gan nguyên phát được chia thành 5 loại: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC: Hepatocellular Carcinoma) thường gặp nhất, chiếm khoảng 90% trường hợp. Ung thư tế bào gan dạng tấm sợi (FHCC: Fibrolamella Hepatocellular Carcinoma): đây là một phân loại hiếm gặp của ung thư gan, thường phát triển trên nền mô gan bình thường. Ung thư tế bào đường mật trong gan (CC: Cholangiocellular Carcinoma): đây là loại ung thư ít gặp (chiếm 5 – 10%), tế bào ung thư phát triển từ tế bào biểu mô ống mật. Ung thư nguyên bào gan (Hepatoblastoma): loại ung thư này hiếm gặp (khoảng 0,5 – 1%) thường xảy ra ở trẻ em. Sarcoma mạch máu: loại ung thư này vô cùng hiếm.

Cơ chế bệnh sinh của ung thư tế nguyên phát bao gồm nhiều cơ chế phức tạp, tế bào gan bị biến đổi qua các giai đoạn, chủ yếu bao gồm tổn thương gan mạn tính và biến đổi gen.

Tế bào gan có đời sống khá lâu nên ít khi phân bào để đổi mới nếu gan khỏe mạnh. Trong trường hợp viêm gan mạn tính và tiếp xúc với các yếu tố gây tổn thương gan kéo dài, các tế bào gan phải phân bào và đổi mới liên tục để thay thế các tế bào bị tổn thương, hoại tử, dần dần sẽ đưa đến tình trạng xơ hóa mô gan. Tình trạng sinh sản liên tục của tế bào gan cũng tạo điều kiện cho các rối loạn gen xảy ra gồm đột biến gen, sắp xếp lại gen, mất đoạn, đa bội thể, khuếch đại gen. Hậu quả là sự kích hoạt các gen sinh ung kích thích tăng trưởng số lượng tế bào và bất hoạt các gen đè nén bướu. Về mặt mô bệnh học, trong gan hình thành các ổ tân tạo tế bào gan, tiến triển thành những nốt tăng sinh, rồi trở thành dị sản, là tiền thân của ung thư gan.

Biểu hiện lâm sàng rất thay đổi tùy thuộc vào vị trí, kích thước và giai đoạn ung thư gan. Các khối u nhỏ thường không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ qua siêu âm hay khi kiểm tra sức khỏe định kỳ.

Triệu chứng biểu hiện ung thư gan nguyên phát có thể gặp như: sút cân, chán ăn, đau thượng vị, buồn nôn và ói mửa, yếu và mệt mỏi, gan to, đau bụng, bụng chướng, tụ dịch trong bụng, vàng da vàng mắt, nước tiểu sậm màu, ngứa.

Xét nghiệm

  • Công thức máu: thiếu máu.
  • Tốc độ lắng máu tăng.
  • Chức năng gan: Chỉ rối loạn trong ung thư gan trên nền xơ gan hoặc khi khối U chiếm trên 75% thể tích gan.
  • Enzyme gan: SGOT (AST) thường cao hơn SGPT (ALT).
  • Alpha Foeto Protein (AFP): Là một Glycoprotein do gan phôi sản xuất, giảm 3 tuần sau sinh, nồng độ ở người trưởng thành khoảng 4-10 ng/ml.
  • AFP; AFP-L3; khi AFP > 1000ng/ml thường gặp trong ung thư. Tuy nhiên, cũng gặp trong các trường hợp như phụ nữ mang thai hay viêm gan cấp. AFP-L3 có độ nhạy cao hơn AFP.
  • PIVKA-II: Dương tính ở 70% bệnh nhân ung thư gan nguyên phát và khoảng 50% ở những bệnh nhân ung thư gan có AFP bình thường.
  • Alpha L-Fucosidase: Enzyme này tăng cao trong ung thư gan nguyên phát, với độ đặc hiệu 90% và độ nhạy khoảng 75%, cũng tăng trong u gan lành tính.
  • Siêu âm: phát hiện một hoặc nhiều khối trong gan. có tăng sinh mạch máu trong u, thường có huyết khối trong tĩnh mạch cửa.
  • Chụp CT scan ổ bụng: phát hiện khối u khá chính xác.
  • Cộng hưởng từ (MRI) cũng là một kỹ thuật hình ảnh có giá trị trong chẩn đoán.
  • Sinh thiết: Sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học là tiêu chuẩn vàng nhưng xét nghiệm này xâm lấn có thể có biến chứng như chảy máu sau sinh thiết.

Chẩn đoán xác định ung thư gan nguyên phát khi có một trong 3 tiêu chuẩn sau:

  • Có bằng chứng mô bệnh học là ung thư tế bào gan nguyên phát.
  • Hình ảnh điển hình trên CT scan ổ bụng có cản quang hoặc cộng hưởng từ (MRI) ổ bụng có cản từ và AFP > 400 ng/mL.
  • Hình ảnh điển hình trên CT scan ổ bụng có cản quang hoặc cộng hưởng từ (MRI) ổ bụng có cản từ và AFP tăng cao hơn bình thường nhưng chưa đến 400 ng/mL và có nhiễm virut viêm gan B hoặc C. Có thể làm sinh thiết gan để chẩn đoán xác định nếu bác sĩ lâm sàng thấy cần thiết.

Điều trị

  • Cắt bỏ một phần của gan có khối u.
  • Làm đông các tế bào ung thư
  • Tiêm cồn vào khối u.
  • Chích thuốc hóa trị vào gan (TACE, TOCE)
  • Đốt u gan bằng sóng cao tầng
  • Điều trị thuốc: Sorafenib (Nexavar)

Lối sống cho người bệnh ung thư gan

Chế độ ăn uống: người bệnh nên ăn nhiều rau xanh và các thực phẩm giàu chất xơ, sữa chua, sử dụng trà, nước ép trái cây, tránh sử dụng nhiều chất béo, thức ăn nhiều dầu mỡ, rượu, thịt đỏ, đồ hộp và đồ ăn nhanh….

Chế độ sinh hoạt: Tập thể dục thường xuyên không để thừa cân, béo phí.

Phòng ngừa bệnh ung thư gan

  • Tiêm phòng vacxin vi rút viêm gan B
  • Điều trị các bệnh viêm gan vi rút.

Điều trị vi rút gan C mạn tính với thuốc ức chế trực tiếp vi rút như sofosbuvir-velpatasvir; sofosbuvir-ledipasvir; sofosbuvir- Daclatasvir… có tỷ lệ khỏi bệnh rất cao, ít tác dụng phụ, ít tốn kém. Theo kết quả nghiên cứu cho thấy điều trị càng sớm ở giai đoạn gan chưa tổn thương (chưa xơ hoá biểu hiện qua xét nghiệm đo độ đàn hồi gan ở giai đoạn F0, F1) cho kết quả tốt và gan hồi phục như người bình thường. Nếu điều trị trễ, độ đàn hồi gan qua giai đoạn F2, F3, F4 thì dù đã tiệt trừ được vi rút viêm gan C, nhưng vẫn có tỷ lệ nhỏ gan tiếp tục tổn thương dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Do đó, sau khi điều trị thành công vẫn phải theo dõi định kỳ.

Tương tự, điều trị viêm gan vi rút B mạn tính, thời gian điều trị kéo dài cho đến khi hết kháng nguyên bề mặt (HBsAg), chú ý khi điều trị viêm gan siêu vi B không được tự ngưng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sỹ vì khi ngưng thuốc đột ngột rất dễ dẫn đến suy gan cấp và tử vong. Diễn tiến tự nhiên viêm gan vi rút B, khoảng 10-15% có thể gây ung thư gan mà không qua giai đoạn xơ gan. Để phát hiện sớm, trong quá trình điều trị phải xét nghiệm định kỳ mỗi 3 tháng: siêu âm bụng, xét nghiệm chức năng gan, mỗi 6 tháng định lượng HBV-DNA.

  • Tránh sử dụng thuốc có hại cho gan
  • Thuốc đông y là dược liệu đã được sử dụng từ lâu đời, chỉ có công dụng hỗ trợ điều trị bệnh lý gan.
  • Tránh nhiễm độc tố, hóa chất từ môi trường.
  • Tránh sử dụng những thực phẩm ẩm mốc.

TS. BS Võ Hồng Minh Công

Trưởng Khoa Nội Tiêu Hoá Bệnh Viện Nhân Dân Gia Định

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Vai trò của Y học cổ truyền trong điều trị ung thư

Nếu như với Tây y, việc điều trị Ung thư được phối hợp nhiều phương pháp tuỳ thuộc vào giai đoạn phát hiện và chẩn đoán xác định loại ung thư. Thì từ kinh nghiệm …

Ung thư trẻ em - Có phải là dấu chấm hết?

Mỗi năm trên thế giới có thêm khoảng 160.000 trẻ em bị ung thư và khoảng 90.000 trẻ chết do ung thư. Tính trên toàn dân số, ung thư trẻ em chiếm khoảng 1-2% tổng …

10 quan niệm sai lầm về Ung thư cổ tử cung

Mặc dù hiện nay có rất nhiều phương pháp giúp phòng ngừa và tầm soát, nhưng ung thư cổ tử cung vẫn là một căn bệnh khá phổ biến ở phụ nữ. Hàng năm ung …

Ung thư vòm mũi họng - Vì sao hay phát hiện muộn?

Ung thư vòm mũi họng - Vì sao hay phát hiện muộn? Ở Việt Nam, Ung thư vòm mũi họng là bệnh khá phổ biến, chiếm tỷ lệ khoảng 10-12% tổng số các loại ung thư …

Ung thư phổi - Hàng đầu về tử vong trong các bệnh ung thư ở nam giới

Ung thư phổi là ung thư thường gặp trên thế giới, chiếm tỷ lệ khoảng 12% trong tổng số ung thư các loại và có xu hướng ngày càng gia tăng. Đặc biệt trong thời …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi