Ung thư dạ dày – Hiểu đúng, chẩn đoán sớm, điều trị hiệu quả!

Trên thế giới, ung thư dạ dày (ung thư bao tử) thường gặp ở Đông Á, Tây Châu Âu, Nam và Trung Mỹ. Bệnh ít gặp hơn ở Châu Phi và Bắc Mỹ. Bệnh thường gặp ở nam hơn nữ. Ung thư dạ dày có thể gặp ở người trẻ, nhưng nguy cơ tăng lên theo tuổi. Tại Việt Nam, ung thư dạ dày là một trong năm loại ung thư thường gặp nhất ở cả nam lẫn nữ sau ung thư gan, phổi, vú, dạ dày, đại trực tràng.

Các yếu tố nguy cơ gây ung thư dạ dày

  • Nhiễm vi khuẩn Helicobacter Pylori (HP) dường như là nguyên nhân chính gây ung thư dạ dày, nhất là phần đáy dạ dày. Nhiễm HP lâu dài dẫn đến viêm teo dạ dày và các thay đổi tiền ung thư mặt trong dạ dày. Người bệnh ung thư dạ dày có tỷ lệ nhiễm HP cao hơn người không bị ung thư. Nhiễm HP cũng liên quan với một số loại lymphoma dạ dày. Mặc dù vậy, có nhiều người nhiễm HP nhưng không phát triển thành ung thư dạ dày.
  • Dư cân, béo phì có liên quan với việc gia tăng tỷ lệ ung thư dạ dày phần tâm vị (đoạn trên dạ dày).
  • Nguy cơ ung thư dạ dày tăng ở những người ăn nhiều thực phẩm bảo quản với muối, như cá muối và xúc xích, thịt muối, thịt xông khói… hoặc thường xuyên ăn đồ nướng, thịt khét.
  • Ăn ít hay không ăn trái cây, rau xanh làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày.
  • Uống rượu bia có thể tăng nguy cơ ung thư.
  • Hút thuốc lá làm tăng gấp đôi ung thư dạ dày so với người không hút thuốc, nhất là ung thư phần trên dạ dày đoạn gần thực quản.
  • Ung thư gia tăng ở những người phẫu thuật cắt một phần dạ dày để điều trị bệnh không do ung thư như loét dạ dày. Nguyên nhân có thể do dạ dày giảm tiết acid nên nhiều vi khuẩn có hại dễ tồn tại, hay do tình trạng trào ngược mật từ ruột non vào dạ dày sau phẫu thuật. Những ung thư dạ dày loại này thường phát triển sau phẫu thuật nhiều năm.
  • Polyp dạ dày: là những khối lành tính phát triển mặt trong dạ dày. Hầu hết các loại polyp không tăng nguy cơ ung thư dạ dày. Tuy vây, loại polyp tuyến (adenomatous polyps) đôi khi có thể phát triển thành ung thư.

Yếu tố nào có thể ảnh hưởng ra sao đến tế bào dạ dày bình thường có thể trở thành ung thư vẫn chưa được xác định rõ ràng và vẫn còn đang được tiếp tục nghiên cứu.

Các tổn thương tiền ung thư

Một số thay đổi được xem như tiền ung thư có thể xuất hiện trong lớp lót bên trong dạ dày.

Viêm dạ dày thể teo: nghĩa là các tế bào tuyến bình thường bị ít đi hoặc không có. Mức độ viêm tùy theo các tế bào dạ dày bị tổn thương bởi hệ thống miễn dịch. Viêm dạ dày thể teo thường do nhiễm HP, cũng có thể do hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào trong dạ dày.

Tầm soát, phát hiện sớm ung thư dạ dày?

Tại Mỹ, vấn đề tầm soát ung thư dạ dày chưa thực hiện, hầu hết mọi người không được chẩn đoán ung thư cho đến khi họ có triệu chứng cần các kiểm tra y khoa. Một số nước Đông Á và Nam Mỹ, nơi có tần suất ung thư dạ dày cao hơn, thì việc tầm soát cho người dân giúp phát hiện sớm ung thư dạ dày nhằm tăng khả năng chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ ràng liệu tầm soát làm giảm số ca tử vong do ung thư dạ dày.

Một số trường hợp nguy cơ cao có thể nên được tầm soát định kỳ. Những người có tiền căn đã bị tiền ung thư, hoặc gia đình có người bị hội chứng Lynch hoặc đa polyp tuyến gia đình cần được nội soi dạ dày định kỳ.

Ung thư dạ dày có thể gây các dấu hiệu và triệu chứng:

  • Kém ăn, ăn không ngon, ăn mau no dù ăn rất ít, dễ đầy bụng.
  • Sụt cân.
  • Đau bụng mơ hồ, thường là ngay trên rốn.
  • Nóng rát trào ngược, buồn nôn, ói có thể kèm theo máu.
  • Chướng bụng hoặc tràn dịch ổ bụng.
  • Đi tiêu phân đen, có máu trong phân.
  • Cảm giác mau mệt do thiếu máu.
  • Vàng da, vàng mắt nếu ung thư lan tràn đến gan.

Hầu hết các triệu chứng này mơ hồ và thường gặp ở một số bệnh khác như nhiễm siêu vi, hay loét dạ dày, hơn là hay gặp trong ung thư. Tuy vậy, khi các triệu chứng kéo dài hoặc ngày càng xấu đi, bệnh nhân nên đến bác sĩ để tìm nguyên nhân và điều trị. Nếu nghi ngờ ung thư dạ dày, bác sĩ sẽ khám, làm thêm các xét nghiệm để giúp xác định bệnh. Hỏi và khám người bệnh có thể giúp bác sĩ có thông tin về các dấu hiệu ung thư dạ dày hay các vấn đề sức khỏe khác. Khi nghi ngờ ung thư dạ dày, bệnh nhân có thể cần làm thêm một số xét nghiệm khác sâu hơn.

Các phương pháp giúp chẩn đoán ung thư dạ dày

  1. Nội soi sinh thiết dạ dày

Trong nội soi, bác sĩ dùng ống nội soi nhỏ, ống dẻo, mang ánh sáng với một camera nhỏ ở đầu ống, đưa qua họng giúp bác sĩ xem xét thực quản, dạ dày và đoạn đầu ruột non. Nếu nghi ngờ vùng nào thì bác sĩ sẽ sinh thiết một mẫu mô qua ống nội soi. Những mẫu mô sinh thiết sẽ được gởi đến phòng xét nghiệm và xem xét dưới kính hiển vi để tìm tế bào ung thư và xác định loại ung thư như carcinom tuyến, bướu carcinoid, bướu mô đệm đường tiêu hóa GIST hay lymphoma. Tuy vậy, một số trường hợp vẫn khó phát hiện qua nội soi. Đôi khi có thể sử dụng siêu âm qua nội soi. Một số trường hợp nội soi can thiệp có thể cắt bỏ ung thư giai đoạn rất sớm. Nội soi đôi khi giúp giảm triệu chứng hoặc ngăn cản biến chứng và tránh một phẫu thuật lớn. Hầu hết bệnh nhân được gây mê khi nội soi can thiệp.

Ngoài ra, sinh thiết còn có thể được thực hiện với sự hướng dẫn của CTscan bụng hoặc siêu âm. Bác sĩ có thể thực hiện sinh thiết bướu định vị kim xuyên qua da vào vùng bướu dưới sự hỗ trợ hình ảnh của CTscan hoặc siêu âm.

  1. Xquang dạ dày có cản quang

Chụp Xquang có uống chất cản quang Barium giúp khảo sát thực quản, dạ dày và phần đầu ruột non. Phương pháp này ít được dùng hơn nội soi nhưng đôi khi có ích trong một số trường hợp. Khuyết điểm của Xquang là không lấy được mẫu mô sinh thiết. Trước khi chụp Xquang, người bệnh sẽ được cho uống chất trắng đục như sữa có chứa chất cản quang Barium. Chất này sẽ tráng bên trong thực quản, dạ dày và một phần ruột non (đôi khi người bệnh có thể được bơm qua ống thông mũi-dạ dày). Một số hình ảnh Xquang sẽ chụp ngay sau đó giúp phát hiện những vùng bất thường.

  1. Siêu âm qua nội soi (Endoscopic ultrasound)

Đầu dò siêu âm được gắn vào đầu đỉnh ống nội soi. Khi bệnh nhân được gây mê, ống nội soi đưa qua họng vào trong dạ dày. Đầu dò được áp vào thành dạ dày nơi nghi ngờ ung thư. Qua siêu âm bác sĩ nhìn thấy các thành của dạ dày, các hạch lympho lân cận và các cấu trúc bên cạnh dạ dày.

Một số các phương pháp chẩn đoán khác như siêu âm, chụp cắt lớp điện toán – CTscan (Computed tomography), chụp cộng hưởng từ – MRI (Magnetic Resonance Imaging) hay hình ảnh chụp phát xạ positron – PET (Positron Emission Tomography) …

Tùy từng trường hợp các bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm phù hợp để xác định tình trạng nặng nhẹ của bệnh. Bác sĩ cũng cần tìm hiểu xem bệnh ung thư của người bệnh đã lan rộng chưa, và nếu có thì lan xa đến đâu. Điều này được gọi là giai đoạn ung thư. Việc biết được giai đoạn của bệnh ung thư giúp bác sĩ quyết định phối hợp các phương pháp điều trị tốt nhất.

Một số xét nghiệm hiện đại gần đây được thực hiện để hiểu rõ hơn loại ung thư cũng như giúp tăng hiệu quả điều trị. Ví dụ như các tế bào ung thư gia tăng mức HER2 đượcc gọi là HER2 dương tính và những ung thư này có thể phù hợp với liệu pháp thuốc nhắm trúng đích protein HER2. Kiểm tra các gen khác hay thay đổi protein tại điểm kiểm soát miễn dịch PD-L1 có thể phù hợp điều trị liệu pháp ức chế miễn dịch như pembrolizumab (Keytruda).

  1. Nội soi ổ bụng

Trong một số trường hợp, sau khi đã xác định ung thư và các xét nghiệm hình ảnh CT, PET chưa cho thấy bướu lan tràn vào các phần khác của cơ thể, bác sĩ có thể thực hiện nội soi ổ bụng khảo sát mức độ lan tràn của ung thư trước khi thực hiện phẫu thuật lớn. Nội soi ổ bụng giúp đánh giá chọn lựa phương pháp phẫu thuật phù hợp giai đoạn bệnh.

Nội soi ổ bụng cần được thực hiện trong phòng mổ dưới gây mê. Thủ thuật với một vết mổ nhỏ ở thành bụng để đưa ống nội soi (ống nhỏ, dẻo, dễ uốn lượn, có gắn camera nhỏ ở đầu ống) vào trong ổ bụng giúp bác sĩ quan sát bề mặt của các cơ quan và hệ thống hạch lympho bên trong ổ bụng hoặc lấy mẫu sinh thiết nếu nghi ngờ. Đôi khi bác sĩ cũng có thể “rửa ổ bụng” (peritoneal washing) để lấy dịch đi làm xét nghiệm tìm tế bào bướu.

Phân loại giai đoạn bệnh

Sau khi đã chẩn đoán ung thư, các bác sĩ sẽ khám và làm các xét nghiệm để xác định mức độ lan rộng của bướu được gọi là giai đoạn bệnh ung thư. Giai đoạn bệnh giúp mô tả độ nặng của bệnh và tiên liệu kết quả điều trị cũng như giúp ước tính thời gian sống còn của người bệnh.

Xếp giai đoạn bệnh ung thư dạ dày hiện được dùng khá phổ biến là hệ thống TNM, dựa trên 03 yếu tố quan trọng T, N, M.

T (Tumor): mô tả khối u, độ lan rộng khối u vào trong các lớp thành dạ dày và xem u có xâm lấn ra khỏi dạ dày đến các cơ quan kế cận. Thành dạ dày chia ra 5 lớp: lớp niêm mạc, dưới niêm mạc, lớp cơ, dưới thanh mạc, thanh mạc.

N (Node): là tình trạng hạch, mô tả ung thư lan ra các hạch bạch huyết lân cận.

M (metastasis): xem xét di căn ung thư, mức độ lan tràn của bệnh đến các cơ quan bộ phận khác của cơ thể như gan, phổi.

Thường các bác sĩ sẽ dựa vào TNM để xết thành nhóm giai đoạn từ I đến IV (từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4) của bệnh. Giai đoạn bệnh càng cao thường bệnh càng nặng. Đôi khi ta nghe bác sĩ giải thích bệnh còn tại chỗ (ung thư chưa lan ra khỏi dạ dày), hay tại vùng (ung thư lan ra khỏi dạ dày đến các cơ quan sát bên hoặc hạch lân cận) hay di căn xa (ung thư phát triển các vị trí cơ quan xa hơn trong cơ thể như gan, phổi).

Điều trị ung thư dạ dày

  1. Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính trong ung thư dạ dày. Đối với một số trường hợp giai đoạn thật sớm, có thể thực hiện thực hiện cắt khối ung thư qua nội soi dạ dày. Phần lớn các trường hợp các bác sĩ sẽ cắt một phần hay toàn bộ dạ dày tùy giai đoạn bệnh. Nếu cắt toàn bộ dạ dày, các bác sĩ sẽ tái tạo lại dạ dày cho bệnh nhân. Phẫu thuật thường có thể là phẫu thuật hở qua thành bụng hay được thực hiện qua nội soi ổ bụng. Hiện nay, một vài nơi thực hiện phẫu thuật có sự hỗ trợ của cánh tay robot.

  1. Hóa trị

Nhiều thuốc hóa trị được sử dụng phối hợp với nhau trong điều trị ung thư dạ dày. Hóa trị thường dùng hỗ trợ sau phẫu thuật. Một số trường hợp, các bác sĩ sẽ hóa trị trước (hóa trị dẫn đầu, tân hỗ trợ) để giúp giảm giai đoạn bệnh xuống, nhằm giúp cho phẫu thuật hoặc xạ trị thuận lợi và hiệu quả hơn.

Liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch: đây là tiến bộ trong điều trị ung thư dạ dày, các bác sĩ sẽ xét nghiệm thêm xem trường hợp nào đáp ứng với các thuốc mới. Thuốc ức chế HER2 như Trastuzumab (Herceptin), thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch chẳng hạn Pembrolizumab (Keytruda).

  1. Xạ trị

Với sự tiến bộ của xạ trị, một số trường hợp ung thư dạ dày có thể xạ trị ở một số bệnh viện chuyên khoa ung thư. Xạ trị dùng tia phóng xạ ion hóa năng lượng cao để phá hủy tế bào ung thư. Mục tiêu của xạ trị là đưa năng lượng phóng xạ cao, chính xác, tập trung vào vùng ung thư muốn xạ đồng thời giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến mô lành của cơ thể xung quanh.

Các tiến bộ nhanh chóng trong các phương pháp xạ trị ngoài gần đây đã giúp tăng hiệu quả xạ trị đồng thời giảm các tác dụng phụ và biến chứng do xạ trị trên người bệnh.

  • Xạ trị điều biến cường độ tia (Intensity modulated radiotherapy; IMRT): sử dụng máy xạ trị gia tốc thẳng với mục đích đem lại sự chính xác tại vị trí cần chiếu xạ. Liều xạ cao nhất sẽ tập trung vùng bị ung thư mà bác sĩ muốn xạ trị đồng thời giảm tối đa tổn thương mô lành xung quanh bị ảnh hưởng bởi xạ trị.
  • Xạ trị dưới hướng dẫn hình ảnh (Image-guided radiation therapy; IGRT): Bác sĩ sẽ sử dụng các hình ảnh như CTscan, MRI để hướng dẫn tập trung tia xạ vào vùng cần được điều trị, IGRT hoạt động hiệu quả ở trên những bộ phận cơ thể chuyển động, đây là ưu điểm mà các phương pháp xạ trị trước đây không thể thực hiện tốt được. Với máy xạ trị ngoài hiện đại các bác sĩ có thể thực hiện xạ trị định vị thân SBRT (Stereotactic Body Radiation Therapy) với liều xạ cao khu trú vùng ung thư đem lại một số hiệu quả như xạ phẫu.

Sự phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp Phẫu trị, Hóa trị, Xạ trị, liệu pháp nhắm trúng đích, liệu pháp miễn dịch, chăm sóc giảm nhẹ và điều trị đa này gọi là “đa mô thức” trong điều trị ung thư. Mỗi người bệnh có những tình trạng rất khác biệt và việc chọn lựa điều trị phù hợp nhất với từng người bệnh riêng biệt gọi là “cá thể hóa” trong điều trị nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho bệnh nhân.

Điều trị ung thư dạ dày đạt hiệu quả càng cao khi giai đoạn bệnh càng sớm. Vì vậy, vấn đề quan tâm đến bệnh và chẩn đoán bệnh sớm là rất quan trọng. Người bệnh nên lưu ý với các dấu hiệu liên quan đến bệnh ung thư và khám tư vấn chuyên khoa nếu triệu chứng kéo dài, không hết với các điều trị thông thường. Điều trị vi khuẩn HP khi có kèm loét dạ dày, quan trọng là theo hướng dẫn bác sĩ chuyên khoa vì không phải tất cả trường hợp nhiễm HP đều trở thành ung thư dạ dày, và không phải tất cả trường hợp nhiễm HP điều cần điều trị. Đồng thời, cố gắng tránh các yếu tố nguy cơ gây ung thư, ăn nhiều rau quả tươi, hạn chế rượu bia, hạn chế thực phẩm chế biến bảo quản với muối, thịt nướng khét. Giữ cân nặng hợp lý, tránh thừa cân, béo phì và hoạt động thể dục thể thao thường xuyên không chỉ giúp giảm nguy cơ ung thư dạ dày mà còn giảm nguy cơ một số bệnh lý ung thư khác cũng như tránh được một số bệnh như tim mạch, tiểu đường.

 ThS. BS CKII Quách Thanh Khánh
Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Ung thư buồng trứng - Sát thủ thầm lặng

Ung thư buồng trứng là một trong những bệnh lý ung thư nguy hiểm nhất ở phụ nữ. Bệnh còn được gọi là “sát thủ thầm lặng” vì bệnh nhân ít có biểu hiện lâm …

Những tiến bộ trong điều trị ung thư

Ngày nay, điều trị bệnh lý ung thư có nhiều tiến bộ với nhiều kỹ thuật cao. Việt Nam hòa cùng sự phát triển đó đã đem lại hiệu quả kiểm soát bệnh ngày càng …

Đàn ông nên tầm soát ung thư gì?

Tầm soát ung thư là việc cần thiết để phát hiện sớm bệnh, qua đó lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả. Với đàn ông, nếu tầm soát ung thư thì đó là những …

Ung thư tiền liệt tuyến: Vẫn có nhiều cơ may để kiểm soát bệnh tốt

Các bác sĩ ung thư chúng tôi hay gặp những câu hỏi của bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân “Bác sĩ ơi, tuổi ông tôi đã 60-70, giờ phát hiện ung thư tiền liệt …

Ung thư vú và Dinh dưỡng

Đã có rất nhiều các nghiên cứu xác định nguyên nhân của ung thứ vú, nhưng cho đến nay, vẫn chưa ai có thể giải thích được tại sao người này bị ung thư vú …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi