Rượu và những tác hại!

Việc tiêu thụ quá nhiều rượu và đồ uống có cồn có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và để lại những hậu quả do say rượu, do những độc hại và phụ thuộc vào rượu. Ngoài các bệnh mãn tính có thể diễn tiến ở những người uống một lượng lớn rượu trong một số năm, việc sử dụng rượu cũng có liên quan đến việc tăng nguy cơ gây tai nạn giao thông, tai nạn lao động.

 

Rượu ảnh hưởng đến cơ thể con người như thế nào?

Rượu ảnh hưởng đến mọi cơ quan trong cơ thể. Bởi rượu là một chất ức chế hệ thần kinh trung ương được hấp thu nhanh chóng từ dạ dày và ruột non vào máu. Rượu được chuyển hóa ở gan nhờ enzyme. Tuy nhiên, gan chỉ có thể chuyển hóa một lượng nhỏ rượu tại một thời điểm, khiến lượng cồn dư thừa lưu thông khắp cơ thể. Cường độ của tác dụng của rượu đối với cơ thể liên quan trực tiếp đến lượng tiêu thụ và khả năng chuyển hóa rượu trong cơ thể mỗi người.

 

Tại sao một số người phản ứng khác nhau khi uống rượu?

Phản ứng cá nhân với rượu khác nhau và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, như:

  • Tuổi tác: Tuổi nhỏ và người lớn tuổi dễ say hơn thanh niên.
  • Giới: Nam uống 5 ly trở lên hoặc nữ uống 4 ly trở lên trong một dịp.
  • Chủng tộc hoặc sắc tộc.
  • Tình trạng thể chất: Cân nặng, mức độ thể dục.
  • Lượng hoặc loại thức ăn tiêu thụ trước khi uống.
  • Cách thức uống rượu bia.
  • Sử dụng thuốc hoặc thuốc đang điều trị.
  • Tiền sử gia đình có vấn đề về rượu.

Sử dụng rượu quá mức, bao gồm uống rượu chưa đủ tuổi và uống say (uống 5 ly trở lên trong một dịp cho nam giới hoặc 4 ly trở lên trong một dịp cho phụ nữ), có thể dẫn đến tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe như chấn thương, bạo lực, bệnh gan và ung thư.

Uống rượu bia bao nhiêu là có hại?

Đàn ông không nên uống quá hai đơn vị cồn một ngày còn phụ nữ là một đơn vị cồn mỗi ngày và không uống quá 5 ngày một tuần. Trong thực tế không có tiêu chuẩn cụ thể uống bao nhiêu rượu bia là có hại.

Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, khi nói đến tác hại của rượu bia, mọi người thường nghĩ ngay đến hậu quả gây rối loạn tâm thần, xơ gan và tai nạn giao thông. Thực tế hậu quả của uống rượu bia đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều. Chúng ẩn họa nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm phổ biến hiện nay:

  • Các bệnh không lây nhiễm: tim mạch, đái tháo đường và ung thư (46%).
  • Gây tai nạn giao thông do chất cồn có trong rượu bia tác động thần kinh trung ương làm rối loạn phối hợp vận động, rối loạn nhận thức và hành vi; nguy hiểm hơn là gây bạo lực hoặc hành vi nguy hại người khác.
  • Gây xơ gan.
  • Chất cồn là chất hướng thần gây nghiện, lệ thuộc rượu sẽ gây loạn thần, gây nhiều bệnh cấp tính và các bệnh mạn tính.

 

Say rượu bia và những hậu quả

Uống rượu say hay say rượu là kết quả của việc tiêu thụ quá nhiều rượu. Uống rượu chè chén thường dẫn đến nhiễm độc cấp tính. Nhiễm độc rượu có thể gây hại vì nhiều lý do, bao gồm:

  • Chức năng não bị suy giảm dẫn đến khả năng phán đoán kém, giảm thời gian phản ứng, mất thăng bằng và các kỹ năng vận động hoặc nói chậm.
  • Sự giãn nở của các mạch máu, gây cảm giác ấm áp nhưng dẫn đến mất nhiệt nhanh chóng.
  • Tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư, đột quỵ, tổn thương tế bào gan, xơ gan do rượu, viêm tụy, đặc biệt là khi uống quá nhiều rượu trong thời gian dài. Gây viêm họng, viêm thanh quản, tăng huyết áp…
  • Tăng nguy cơ tai nạn giao thông, bạo lực và các thương tích khác.
  • Hôn mê và tử vong có thể xảy ra nếu uống rượu bia nhanh và lượng lớn.
  • Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người sử dụng rượu trước 15 tuổi có nguy cơ nghiện rượu cao gấp 6 lần so với người trưởng thành bắt đầu uống rượu ở tuổi 21.
  • Những hậu quả khác của việc sử dụng rượu ở thanh thiếu niên bao gồm các hành vi tình dục rủi ro gia tăng, thành tích học tập kém và tăng nguy cơ tự tử và giết người.
  • Phụ nữ mang thai nếu uống rượu gây tổn thương thai nhi đang phát triển, hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh. Không có mức độ sử dụng rượu an toàn trong thai kỳ. Phụ nữ đang mang thai hoặc có kế hoạch mang thai nên tránh uống rượu để giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và khả năng tiếp xúc rượu với thai nhi đang phát triển.
  • Các bà mẹ cho con bú: Không uống rượu là lựa chọn an toàn nhất. Uống đồ uống có cồn không phải là một dấu hiệu để ngừng cho con bú, tuy nhiên, không nên dùng nhiều hơn một ly mỗi ngày.

Hãy cẩn trọng với việc uống rượu, bia

  • Không lạm dụng rượu, bia và các đồ uống có cồn khác. Nếu uống rượu bia chỉ nên uống dưới 02 đơn vị cồn/ ngày với nam giới, dưới 01 đơn vị cồn/ ngày đối với nữ giới và không uống quá 5 ngày trong một tuần.
  • Không điều khiển phương tiện cơ giới, vận hành máy móc sau khi đã uống rượu, bia.
  • Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú, người đang điều trị thuốc có phản ứng với cồn, có các tình trạng bệnh lý mà rượu bia làm cho bệnh nặng lên thì tuyệt đối không sử dụng rượu, bia và đồ uống có cồn khác.

Nói thêm: Một đơn vị cồn tương đương 10 gram cồn nguyên chất chứa trong dung dịch uống. Như vậy 1 đơn vị cồn tương đương với 3-4 chai/ lon bia 330 ml (5%); 1 cốc bia hơi 330 ml; 1 ly rượu vang 100 ml (13,5%); hoặc 1 chén rượu mạnh 30 ml (40%).

 

Rượu và tai nạn lao động

Thực tế, khi rượu vào trong cơ thể con người, sẽ làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên do rượu làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn giảm ít hơn, nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Vì lẽ đó mà những người nghiện rượu sẽ cảm thấy có hiện tượng giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, lời nói không được kiềm chế, suồng sã, hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác và đặc biệt là hoạt động nhiều nhưng lại thiếu chính xác, thậm chí bị sai lệch rất lớn…

Khi uống rượu nhiều làm cho nồng độ rượu trong máu lên trên 0,3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động; khi nồng độ rượu tăng cao hơn từ 0,4% đến 0,5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu có thể dẫn đến hôn mê. Và nếu nồng độ rượu tăng đến 0,6% đến 0,7% thì người uống rượu có thể bị tử vong.

Song song đó, người uống rượu quá mức, thường xuyên, kéo dài sẽ bị rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, có tư tưởng chống đối, gần 40% số người nghiện rượu bị trầm cảm, có thể bị liệt mềm, mất trí.

Chính những vấn đề ảnh hưởng tiêu cực của rượu lên cơ thể, mà đặc biệt là hệ thần kinh, vận động, cảm xúc… nên việc sử dụng rượu trong khi làm việc hoặc tại nơi làm việc sẽ dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng. Trong lao động, những nghề cần sự chính xác, tỉ mỉ, chi tiết, có liên quan đến con người thì việc sử dụng rượu là điều cấm kỵ, như: tài xế, phi công, người sử dụng máy móc phương tiện vận hành, nhân viên y tế, bác sĩ phẫu thuật, công nhân xây dựng, công nhân hầm mỏ, công nhân dây chuyển sản xuất tự động…

Lạm dụng rượu không chỉ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và hạnh phúc của người lao động mà còn gây ra những vấn đề nghiêm trọng trong công việc bao gồm cả việc giảm hiệu suất lao động và tai nạn lao động. Lạm dụng rượu có thể vì các nguyên nhân từ các tình huống cá nhân, gia đình, xã hội hoặc công việc hoặc kết hợp các yếu tố đó. Mặc dù kinh nghiệm đã cho thấy khó khăn trong việc loại bỏ lạm dụng rượu, kể cả việc lạm dụng rượu tại nơi làm việc, nhưng nếu các chính sách tại nơi làm việc được ban hành và thực hiện nghiêm túc sẽ hỗ trợ những người lạm dụng rượu tốt hơn và có khả năng mang lại kết quả mang tính xây dựng cho người lao động và người sử dụng lao động.

Các chính sách và chương trình hạn chế về rượu tại nơi làm việc (dần dần tiến đến cấm hẳn) nên được áp dụng cho tất cả nhân viên, người quản lý:

  • Nhằm thúc đẩy việc ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các vấn đề liên quan đến rượu tại nơi làm việc. Việc này cần phải được áp dụng cho tất cả các loại việc làm công và tư nhân bao gồm cả khu vực phi chính thức.
  • Các vấn đề liên quan đến rượu nên được coi là vấn đề sức khỏe. Do đó nên được xử lý, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào và được bảo vệ bởi các hệ thống chăm sóc sức khỏe (công hoặc tư nhân).
  • Chủ lao động, người lao động và đại diện của họ nên cùng nhau đánh giá tác động của việc sử dụng rượu tại nơi làm việc và nên hợp tác xây dựng chính sách bằng văn bản cho doanh nghiệp.
  • Chủ lao động nên hạn chế hoặc cấm sở hữu, tiêu thụ và bán rượu tại nơi làm việc, bao gồm căn tin, quán ăn và khu vực ăn uống của doanh nghiệp.
  • Những hạn chế hoặc cấm tương tự đối với rượu nên được áp dụng cho cả tất cả nhân viên quản lý và công nhân.
  • Các chương trình thông tin, giáo dục và đào tạo liên quan đến rượu nên được thực hiện để tăng cường an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc.
  • Người sử dụng lao động có thẩm quyền kỷ luật người lao động đối với hành vi sai trái về những việc làm liên quan đến rượu.

TS. BS Lê Văn Nhân

Nguyên PGĐ TT Y tế Dự phòng TP.HCM

Giảng viên ĐH YK Phạm Ngọc Thạch

GĐ Y Khoa Công ty Pacific Cross Việt Nam

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Tầm soát đột quỵ: Chủ động để không phải trời kêu ai nấy dạ

Đột quỵ không còn là căn bệnh "trời kêu ai nấy dạ" nữa, bởi vì ngay tại Việt Nam, bệnh này có thể được tầm soát, phát hiện và điều trị kịp thời thông qua …

Trở về với thiên nhiên là đường an toàn

“Không có liệu pháp nào phù hợp cho cơ thể con người cho bằng tuân thủ qui luật của thiên nhiên”. Paracelsus, một trong các y sư tiền phong của ngành y học phương Tây …

S.I.S Cần Thơ - Hành trình ra biển lớn

“Tôi thật sự không thể tin nổi những gì các bạn đã làm tại SIS! Những gì chúng tôi cảm nhận được tại đây thật sự là ấn tượng! Những gì các bạn đã làm …

Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM và Covid-19: Vượt qua khó khăn

Dịch Covid-19 đã và đang gây ra nhiều khó khăn trong công tác khám chữa bệnh tại các Bệnh viện, trong đó có Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM. Cùng trao đổi với PGS. TS. …

Hội chứng ngưng thở khi ngủ - “sát nhân thầm lặng” & mối liên quan với đột quỵ

Đột quỵ là nguyên nhân tử vong xếp hàng thứ hai và là nguyên nhân số một gây tàn phế. Tiến bộ của y học suốt hàng chục năm qua tuy đã làm giảm đáng …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi