Nobel Y học 2020: Hy vọng mới tiến tới xóa bỏ bệnh viêm gan siêu vi C

Ngày 05/10/2020 Viện Hàn Lâm Khoa Học Thụy Điển quyết định trao giải Nobel cho ba nhà khoa học: Michael Houghton (người Anh), Harvey Alter, Charles Rice (người Mỹ) về những khám phá virus siêu vi gan C, đã có nhiều đóng góp tích cực để giới hạn một bệnh lý mà nhiều thế kỷ trước được xem là bất trị. Giải Nobel y học cho các nhà khoa học trên là vô giá cho những người đã có những đóng góp cho sức khỏe cộng đồng. Bởi đã mở ra một lối đi quang sáng và vũ khí tốt trong cuộc chiến chống siêu vi viêm gan C. Một hy vọng mới cho tương lai một số quốc gia đang phấn đấu đưa ra lộ trình tiến tới xóa bỏ được bệnh viêm gan C.

 Vào thập niên 70 của thế kỷ 20, Y học mới ghi nhận có 2 loại siêu vi gây viêm gan là HAV và HBV. Xét nghiệm chẩn đoán Viêm gan siêu vi B mới được đưa ra thị trường vào năm 1964, còn xét nghiệm chẩn đoán viêm gan siêu vi A cho đến năm 1973 mới được sử dụng. Chỉ một thời gian ngắn người ta lại nhận thấy có một loại siêu vi gây viêm gan không A – không B chiếm 2/3 các trường hợp viêm gan sau truyền máu. Một đề tài mới đã hấp dẫn các nhà nghiên cứu trên thế giới.

Harvey James Alter (sinh năm 1935) là một nhà nghiên cứu y khoa, nhà virus học và bác sĩ người Mỹ, người nổi tiếng với công trình dẫn đến việc phát hiện ra siêu vi viêm gan C. Alter là trưởng bộ phận bệnh truyền nhiễm và là phó giám đốc nghiên cứu của Khoa Y học Truyền máu tại Trung tâm Lâm sàng Warren Grant Magnuson thuộc Viện Y tế Quốc gia (NIH). Vào giữa những năm 1970, Alter và nhóm nghiên cứu của ông đã chứng minh rằng hầu hết các trường hợp viêm gan sau truyền máu không phải do siêu vi viêm gan A và viêm gan B. Ông đã cùng với Edward Tabor, một nhà khoa học tại Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ thông qua nghiên cứu về sự lây truyền ở tinh tinh, đã chứng minh có một dạng viêm gan mới, ban đầu được gọi là “viêm gan không phải A, không phải B” gây ra nhiễm trùng và rằng tác nhân gây bệnh có lẽ là siêu vi. Năm 1988, nhóm của Alter đã xác nhận siêu vi viêm gan mới bằng cách xác minh sự hiện diện của nó trong bảng lưu trữ mẫu vật NANBH của họ. Vào tháng 4 năm 1989, việc phát hiện ra vi rút không phải A, không phải B, được đổi tên thành siêu vi viêm gan C được công bố trong hai bài báo trên tạp chí Science.

Michael Houghton là một nhà khoa học người Anh. Ông nhận bằng Tiến sĩ năm 1977 tại King’s College London. Houghton là đồng tác giả của một loạt các nghiên cứu được công bố vào năm 1989 và 1990 đã xác định các kháng thể viêm gan C trong máu, đặc biệt là ở những bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, bao gồm cả những người đã được truyền máu. Sự phát hiện này đã dẫn đến việc phát triển của xét nghiệm sàng lọc máu vào năm 1990 và sàng lọc máu rộng rãi bắt đầu từ năm 1992. Từ đó hầu như loại bỏ được sự nhiễm viêm gan C từ nguồn cung cấp máu được hiến tặng ở Canada, làm giảm nguy cơ nhiễm HCV thông qua truyền máu từ 1/3 xuống còn khoảng 1/2 triệu.  Người ta ước tính rằng xét nghiệm kháng thể đã ngăn ngừa ít nhất 40.000 ca nhiễm mới mỗi năm chỉ riêng ở Mỹ và nhiều trường hợp khác trên toàn thế giới.

Cùng thời gian ấy, Houghton và các cộng sự đã liên kết mối quan hệ giữa viêm gan C với ung thư gan trong nhiều nghiên cứu khác.

Năm 2013, nhóm nghiên cứu của Houghton tại Đại học Alberta cố gắng tìm ra một loại vắc-xin chiết xuất từ một chủng Viêm gan C duy nhất có hiệu quả chống lại tất cả các chủng virus. Cho đến nay, Vaccin phòng ngừa Viêm gan siêu vi C vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm tiền lâm sàng.

Charles Moen Rice (sinh 1952) là một nhà virus học người Mỹ có lĩnh vực nghiên cứu chính là virus Viêm gan C. Ông là giáo sư virus học tại Đại học Rockefeller ở Thành phố New York. Khi ở Caltech, ông đã tham gia nghiên cứu bộ gen của virus Sindbis và thành lập các flavivirus như một họ virus của riêng chúng. Trong khi khám phá virus Sindbis, Rice đã mô tả cách ông tạo ra flavivirus RNA trong phòng thí nghiệm đăng trên một bài báo năm 1989 của tạp chí The New Biologist. Năm 1997, Rice đã nuôi cấy bản sao truyền nhiễm đầu tiên của siêu vi viêm gan C để sử dụng trong các nghiên cứu trên cơ thể tinh tinh, loài vi rút này cũng là loài bệnh địa phương. Năm 2005, Rice là thành viên của một nhóm nghiên cứu đã chứng minh một chủng virus thuộc dạng cấp tính được xác định trên bệnh nhân người có khả năng tái tạo trong môi trường phòng thí nghiệm. Đóng góp của Rice trong việc ông đã dày công tìm hiểu trong vòng nhiều năm cách thức virus nhân rộng để rồi nhờ vào những nghiên cứu này mà khoa học đã tìm ra được một cách điều trị mới mang tính cách mạng trong những năm 2010: Đó chính là thuốc điều trị diệt từ siêu vi viêm gan C hiệu quả cao được sử dụng hiện nay.

Siêu vi gây viêm gan C (HCV: hepatitis C virus) được phát hiện vào năm 1989, đã khiến khoảng 130 – 185 triệu người trên thế giới nhiễm virus mạn tính, chiếm 3% dân số toàn cầu. Hàng năm có khoảng 500.000 bệnh nhân tử vong do các bệnh liên quan đến viêm gan C, cũng là thủ phạm gây nên viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan tương tự như siêu vi viêm gan B nhưng độc tính cao hơn. Sau khi bị nhiễm HCV cấp tính, tỷ lệ chuyển thành mạn tính khá cao, khoảng 55-85% và nếu không được điều trị, với diễn tiến tự nhiên thì sau khoảng 20 năm sẽ có 15-30% số bệnh nhân nhiễm HCV mạn tính sẽ phát triển thành xơ gan, hàng năm có khoảng 2-4% sẽ phát triển thành ung thư gan. Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh vào thập niên 60-80 hiện nay gần 40% đã và đang bước vào giai đoạn xơ gan. Tử vong liên quan đến đến xơ gan và ung thư gan đã gia tăng trong 20 năm qua.

Do hiện tượng đáp ứng miễn dịch của cơ thể đối với HCV, siêu vi viêm gan C sẽ gây ra một số bệnh lý khác ngoài gan:  Biểu hiện ngoài da (Viêm mạch máu, ngứa, vẩy nến, Liken phẳng, thân (Viêm vi cầu thận dạng màng), xương khớp, Tiểu đường kháng insulin, Viêm tuyến giáp, Hội chứng Siogren… Với triệu chứng không rõ từ lúc bị nhiễm cho đến khi có biến chứng nặng nề là xơ gan và ung thư gan, hầu như người bệnh không hề nhận biết, vì vậy việc phát hiện bệnh lý này thường ở giai đoạn muộn màng.

Do HCV có tính đa hình thái kiểu gen (HCV có 07 kiểu gene và mỗi một loại kiểu gene lại có khá nhiều phân nhóm dưới kiểu gene), bên cạnh đó HCV không có nhóm quyết định kháng nguyên chung giống như virus viêm gan B, nên việc tạo ra vaccine để tiêm phòng cho tất cả các chủng HCV còn gặp nhiều khó khăn.

Nhờ vào sự dày công nghiên cứu của các nhà khoa học trên việc nhận diện nhiễm HCV trong việc kiểm soát truyền máu đã giảm nguy cơ lây nhiễm siêu vi viêm gan C trong cộng đồng làm giảm số lượng ca mắc mới đáng kể.  Bên cạnh đó việc phát hiện sớm người bị nhiễm siêu vi HCV để khởi động chương trình theo dõi và điều trị sớm giảm thiểu được nguy cơ xơ gan và ung thư gan.

Thuốc điều trị Viêm gan siêu vi C mạn đã có hơn 20 năm qua. Khởi đầu là điều trị phối hợp Interferon (IFN) – Ribavarin: Với hiệu quả thấp và nhiều tác dụng bất lợi – Sau đó ra đời Peg – IFN và Ribavarin có cải thiện tỉ lệ khỏi bênh với đáp ứng bền vững (SVR) được ghi nhận lần lượt là 40%, 80%, 70%. Tuy nhiên giá thành thuốc khá cao, thời gian kéo dài từ 1 năm 48 tuần – 72 tuần và vẫn còn những tác dụng không mong muốn gây ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe trong quá trình điều trị, nhiều bệnh nhân đã phải bỏ không tham gia điều trị được hết liệu trình.

Nhiều năm gần đây nhờ sự đóng góp tích cực của Rice với sự bền bỉ nghiên cứu đã tạo tiền đề ra đời những thuốc chống siêu vi viêm gan C mạnh (DAA) được phát triển có tác dụng ức chế nhiều loại men khác nhau trong chu trình tăng sinh của HCV. Việc phối hợp nhiều loại thuốc không cần IFN/Peg-IFN đã được nghiên cứu ra đời và được FDA công nhận cho phép sử dụng lần lượt: Telaprevir (2007) Boceprevir (2011) Simeprevir và Sofosbuvir (2013), Ledipasvir (2014), Daclatasvir (2015), Elbasvir và Grazoprevir (2016).

Cho đến nay sự phát triển nghiên cứu và hiểu biết về siêu vi viêm gan C ngày càng chi tiết hơn, đồng bộ hơn về cấu trúc, chức năng và quá trình sinh bệnh, để ra đời ngày càng nhiều thuốc uống thế hệ mới điều trị bệnh Viêm gan siêu vi C thành công với phương thức điều trị đơn giản, thời gian ngắn còn 3 hoặc 6 tuần, tùy thuộc vào diễn tiến có hay chưa có xơ gan, giá thành người bệnh tiếp cận được và ít tác dụng phụ, hiệu quả khỏi bệnh cao. Đạt đáp ứng bền vững (SVR) là kết điểm của điều trị và tiêu chí xác nhận khỏi bệnh với các thuốc DAA nêu trên qua các các nghiên cứu cho thấy hiệu quả 98-100%. Đánh giá tỉ lệ tái phát thì còn đang trên đường theo dõi lâu dài hơn.

 Tuy việc nghiên cứu tạo vaccine phòng bệnh còn khá nhiều khó khăn phía trước nhưng so với Viêm gan siêu vi B, điều trị viêm gan siêu vi C khả quan hơn nhiều vì có điểm dừng là hoàn toàn có thể làm sạch được HCV ra khỏi cơ thể.

Giải Nobel y học cho các nhà khoa học trên là vô giá vì vinh danh cho những đóng góp cho sức khỏe cộng đồng. Cám ơn các nhà khoa học đã mở ra tương lai tốt đẹp cho những bệnh nhân không may bị nhiễm siêu vi viêm gan C. Và chúng tôi những người thực hành Y khoa xin cám ơn các vị đã giúp ngành Y tế – nói chung, các Bác sĩ nói riêng một lối đi quang sáng và vũ khí tốt trong cuộc chiến chống siêu vi viêm gan C. Một hy vọng mới cho tương lai một số quốc gia đang phấn đấu đưa ra lộ trình tiến tới xóa bỏ được bệnh viêm gan siêu vi C.

BS CKII Trần Ánh Tuyết

Giám đốc Y khoa PK Quốc tế Yersin

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Xăm mi mắt - Làm đẹp nhưng hãy cẩn thận!

Thẩm mỹ tăng sắc tố mi mắt bằng mực xăm ngày càng trở nên phổ biến. Trước đây, các bác sĩ chuyên về da liễu, nhãn khoa và phẫu thuật thẩm mỹ là người thực …

Đàn ông nên tầm soát ung thư gì?

Tầm soát ung thư là việc cần thiết để phát hiện sớm bệnh, qua đó lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả. Với đàn ông, nếu tầm soát ung thư thì đó là những …

Sao chưa kịp nhớ thì em đã … quên?!

Đãng trí, mau quên, thậm chí lú lẫn là thực trạng oái oăm đang được ghi nhận ở nhiều người trẻ, bề ngoài coi còn khỏe. Đời vốn lắm chuyện éo le. Đúng là tréo …

Đừng dùng toa thuốc ... của hàng xóm!

Không cần phải là thầy thuốc, ai cũng hiểu, muốn thuốc có được hiệu quả tối ưu phải đúng chỉ định, đúng liều lượng. Ấy thế mà y sĩ đoàn ở Đức, nơi không thiếu …

Hội chứng Brugada - Nguy hiểm nhưng không phải ai cũng biết

Hội chứng Brugada là một bệnh hiếm, nhưng nguy hiểm, do ảnh hưởng của các khiếm khuyết gen, gây ra các bất thường điện thế trong tim, dẫn đến các rối loạn nhịp tim nhanh …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi