Mãn dục nam

Suy sinh dục khởi phát muộn (LOH – late onset hypogonadism) ở nam giới (hay Mãn dục nam) được ghi nhận ngày càng tăng do dân số ngày càng già hóa. Khi tuổi cao, nam giới bị giảm dần lượng testosterone sinh học có sẵn trong tuần hoàn. Trái ngược với mãn kinh nữ, những thay đổi liên quan đến tuổi tác của nam giới về testosterone trên thực tế diễn ra phức tạp hơn. Đáng tiếc là nhiều trường hợp Mãn dục nam không được phát hiện, bởi khởi phát âm ỉ, thường được cả bệnh nhân và bác sĩ xem như một khía cạnh không thể tránh khỏi của quá trình lão hóa.

Sự suy giảm nồng độ testosterone trong huyết thanh với tốc độ khoảng 1% mỗi năm từ sớm nhất là 30 tuổi và sự suy giảm đáng kể thường xảy ra sau 50 tuổi, mặc dù quá trình này không liên tục và có thể có sự khác biệt lớn giữa các cá nhân. Khi nam giới già đi, có sự suy giảm chức năng của nhiều hệ thống nội tiết, với việc giảm tốc độ bài tiết không chỉ của testosterone mà còn của các tiền chất androgen tuyến thượng thận như dehydroepiandrosterone (DHEA), hormone tuyến giáp, hormone tăng trưởng, renin, angiotensin. Trái ngược với mãn kinh nữ – tiêu biểu bởi sự giảm mạnh và khá đột ngột trong chức năng buồng trứng dẫn đến những thay đổi khác biệt về nội tiết tố và sinh sản, những thay đổi liên quan đến tuổi tác của nam giới về testosterone trên thực tế diễn ra phức tạp hơn và dần dần.

Sự suy giảm testosterone khả dụng phản ánh ba hiện tượng riêng biệt của quá trình lão hóa nam giới. Đầu tiên, sự suy giảm chức năng tinh hoàn là do nguồn cung cấp mạch máu đến tinh hoàn giảm dần theo tuổi tác, số lượng tế bào Leydig giảm và tinh hoàn trở nên kém đáp ứng với hormone luteinizing (LH). Thứ hai, có sự suy giảm chức năng vùng dưới đồi – tuyến yên liên quan đến tuổi tác, do đó cả tần số xung và biên độ tiết gonadotrophin đều giảm, dẫn đến mức độ kích thích tinh hoàn sản xuất testosterone thấp hơn. Nồng độ testosterone thay đổi theo nhịp ngày/đêm, nhưng nhìn chung nằm trong khoảng 300-1000 ng/dL (10,4-34,7 nmol/L) ở nam giới khỏe mạnh. Việc giảm mức đỉnh và mức đáy này trong quá trình lão hóa gây giảm tiếp xúc với testosterone ở tất cả các hệ cơ quan. Thứ ba, với sự lão hóa, có sự gia tăng nồng độ SHBG, làm giảm mức độ testosterone tự do, sinh khả dụng để hoạt động tại các mô đích.

Mãn dục nam (Suy sinh dục khởi phát muộn) là gì?

Hiệp hội Quốc tế Nghiên cứu về Nam giới cao tuổi (ISSAM) đã ban hành các tiêu chuẩn, hướng dẫn và khuyến nghị cho việc điều tra, điều trị và theo dõi Mãn dục nam, đồng thời đưa ra định nghĩa về tình trạng này: “Hội chứng sinh hóa liên quan đến tuổi cao và đặc trưng bởi sự thiếu hụt nồng độ androgen huyết thanh có hoặc không kèm theo giảm độ nhạy cảm của bộ gen đối với nội tiết tố androgen… Mãn dục nam có thể dẫn đến những thay đổi đáng kể về chất lượng cuộc sống và ảnh hưởng xấu đến chức năng của nhiều hệ cơ quan ”.

Chẩn đoán Mãn dục nam

Nhiều trường hợp lâm sàng của Mãn dục nam được cho là không được phát hiện, vì các triệu chứng thiếu hụt testosterone có thể khởi phát âm ỉ, biểu hiện tinh vi, thường được cả bệnh nhân và bác sĩ xem như một khía cạnh không thể tránh khỏi của quá trình lão hóa.

Mức độ testosterone giảm có liên quan đến một loạt các triệu chứng và rối loạn, chẳng hạn như thay đổi dần dần trong thành phần cơ thể, giảm năng lượng và sức mạnh cơ bắp, giảm chức năng tình dục, tăng nguy cơ loãng xương và thiếu máu,  những thay đổi về tâm trạng và khả năng nhận thức… có thể không ngay lập tức quy được về Mãn dục nam mà lại bị gán sang các chuyên khoa khác. Người mãn dục nam đi khám chuyên khoa khác không phát hiện được bệnh sẽ dễ bị hoang mang, mất phương hướng. Đánh giá đúng tác động của việc testosterone tự do suy giảm và thấp trong Mãn dục nam đòi hỏi sự hiểu biết về nhiều chức năng sinh lý và hoạt động của testosterone ở nam giới trẻ và khỏe mạnh bình thường.

Testosterone có rất nhiều chức năng sinh học:

  • Kích thích sản sinh erythropoietin từ thận để tăng cường tạo máu.

  • Giữ lại nitơ để duy trì sự trao đổi chất và khối lượng cơ bình thường.
  • Kích thích quá trình khoáng hóa xương bằng cách ức chế hoạt động của tế bào hủy xương đồng thời tăng cường hoạt động của nguyên bào xương.
  • Ức chế phản ứng viêm trong bệnh thấp khớp tự miễn.
  • Kích thích hình thành protein gan.
  • Ổn định tâm trạng và cải thiện tình trạng trầm cảm, cáu kỉnh và suy giảm lòng tự trọng.
  • Tăng cường các thông số khác nhau của nhận thức.
  • Tăng cường ham muốn tình dục.
  • Duy trì tần suất cương cứng về đêm và cương cứng theo ý muốn.

Bệnh nhân có thể biểu hiện một hoặc nhiều triệu chứng của Mãn dục nam cần chẩn đoán phân biệt và đánh giá đầy đủ bệnh sử, tình trạng thể chất và tinh thần, và chẩn đoán cận lâm sàng về thiểu năng sinh dục.

Các triệu chứng có thể khiến người đàn ông phải tìm đến sự tư vấn y tế bao gồm: giảm ham muốn tình dục, rối loạn cương dương, giảm đáng kể khối lượng cơ và sức mạnh hoặc cảm giác mệt mỏi và thiếu năng lượng, thay đổi thành phần cơ thể đặc trưng bởi sự gia tăng chất béo nội tạng, xu hướng gãy xương tăng lên gợi ý những thay đổi về loãng xương, những thay đổi về tâm trạng và chức năng nhận thức. Một số triệu chứng của Mãn dục nam tinh tế hơn và ít được báo cáo hơn là: cảm giác khó chịu, hay quên, lo lắng, rối loạn giấc ngủ, đổ mồ hôi và bốc hỏa, giảm cảm giác hạnh phúc, thiếu máu, tăng huyết áp và suy giảm các đặc tính giới tính thứ phát, chẳng hạn như giảm lông trên cơ thể và có dấu hiệu teo da, lão hóa.

Một số triệu chứng này có thể là biểu hiện của các bệnh lý khác như bệnh gan hoặc thận, bệnh tuyến giáp, thiếu máu (không liên quan đến testosterone thấp), bệnh ác tính hoặc trầm cảm. Bác sĩ khám bệnh cần loại trừ các bệnh lý nội tiết khác hoặc các tình trạng và bệnh lý cùng tồn tại có biểu hiện các triệu chứng tương tự.

Ở nam giới cao tuổi, có một số đặc điểm và triệu chứng cần cảnh báo sự nghi ngờ về Mãn dục nam, đó là:

  • Giảm ham muốn tình dục và chất lượng cương dương, đặc biệt là cương cứng về đêm. Các đặc điểm này dễ nhận biết.
  • Thay đổi tâm trạng kèm theo giảm hoạt động trí tuệ, khả năng định hướng không gian, mệt mỏi, tâm trạng chán nản và cáu kỉnh.
  • Giảm khối lượng và sức mạnh cơ bắp.
  • Giảm các thay đổi về lông và da trên cơ thể.
  • Giảm mật độ khoáng xương dẫn đến loãng xương.
  • Tăng mỡ nội tạng.

Xét nghiệm đánh giá nồng độ testosterone

Ở những người Mãn dục nam, cần đánh giá nồng độ testosterone trong huyết thanh. Các hướng dẫn đều thống nhất là cần ít nhất hai xét nghiệm testosterone huyết thanh trong các mẫu máu được lấy vào buổi sáng (từ 7:00 giờ đến 11: 00 giờ). Đặc biệt ở bệnh nhân Mãn dục nam có triệu chứng, chỉ xét nghiệm testosterone toàn phần không thể chẩn đoán được Mãn dục nam. Ở nam giới bình thường, có khoảng 60% tổng lượng testosterone liên kết chặt với SHBG, 38% gắn lỏng lẻo hơn với các chất khác (ví dụ như albumin), và tỷ lệ nhỏ còn lại (khoảng 1-2%) là testosterone lưu hành tự do. Các dạng testosterone có hoạt tính sinh học trong cơ thể bao gồm testosterone hoạt tính sinh học gắn với albumin và testosterone tự do. Vì mức độ SHBG tăng lên khi lão hóa, testosterone toàn phần có thể nằm trong giới hạn bình thường, ngay cả khi nồng độ testosterone hoạt tính sinh học giảm xuống. Do đó, ở những bệnh nhân có triệu chứng với mức testosterone toàn phần trong phạm vi bình thường hoặc giữa 8-10 nmol/L, nên đo nồng độ testosterone tự do và cả hoạt tính sinh học để củng cố chẩn đoán đã xác định (những mức này có thể được ước tính bằng cách sử dụng trực tuyến máy tính hiện có trên trang web: www.issam.ch/freetesto.htm). Mức testosterone tự do dưới 225 pmol/L (6,5 ng/dL) gợi ý rõ ràng suy sinh dục ở những bệnh nhân có mức testosterone toàn phần ngưỡng bình thường – thấp. Giá trị ngưỡng cho testosterone hoạt tính sinh học được báo cáo là 281 pg/mL.

Các hướng dẫn của ISSAM khẳng định rằng khi giá trị testosterone toàn phần hoặc testosterone tự do giảm > 2 độ lệch chuẩn so với tiêu chuẩn thì mới có thể coi là thiểu năng sinh dục.

Về thực tế, thời điểm tốt nhất để lấy mẫu máu để xét nghiệm testosterone là vào buổi sáng và lý tưởng nhất là các mẫu sẽ được thu thập vào một số ngày khác nhau để cho phép sản xuất hormone thay đổi trong cơ thể bệnh nhân. Nếu nồng độ testosterone bằng hoặc thấp hơn giới hạn bình thường, kết quả nên được xác nhận bằng lần xác định thứ hai, cùng với việc đánh giá hormone kích thích nang trứng (FSH), LH và prolactin. Tuy nhiên, trên lâm sàng, có rất nhiều nam giới chỉ tranh thủ đi khám lúc rảnh rỗi, hoặc chỉ đi khám một lần rồi yêu cầu bác sĩ điều trị luôn. Như vậy, sẽ ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

Các đánh giá khác có thể được xem xét ngoài xét nghiệm nồng độ testosterone ở nam giới có các triệu chứng gợi ý đến Mãn dục nam bao gồm xét nghiệm hormone kích thích tuyến giáp (TSH) và đo cortisol, sắt và kẽm.

Bảng câu hỏi đánh giá và sàng lọc bệnh nhân

Sự quan tâm ngày càng tăng và công nhận Mãn dục nam như một tình trạng ảnh hưởng đến số lượng lớn đàn ông tuổi cao, và có liên quan đến bệnh tật lâm sàng quan trọng, giảm chất lượng cuộc sống và hạnh phúc tình cảm đã dẫn đến việc phát triển các bảng câu hỏi bệnh nhân cụ thể để sử dụng cho bệnh nhân nam bị Mãn dục nam hoặc nghi ngờ có Mãn dục nam. Những công cụ này rất hữu ích trong thực hành lâm sàng như hỗ trợ chẩn đoán và trong quá trình đánh giá và theo dõi những bệnh nhân có thể được điều trị bằng các liệu pháp và bổ sung nội tiết tố được thiết kế để cung cấp thay thế testosterone trong các trường hợp Mãn dục nam.

Ở Châu Âu, thang điểm Triệu chứng của Nam giới Lão hóa (AMS) nhằm mục đích nắm bắt các phàn nàn về lão hóa có thể gợi ý đến mãn dục nam và nhu cầu chẩn đoán kỹ lưỡng hơn về bệnh lý có thể xảy ra. Công cụ dễ sử dụng này gần đây đã được xác nhận và cho thấy có khả năng thuyết phục để đo lường chất lượng cuộc sống và những thay đổi sau khi điều trị, cũng như một loạt các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của chúng được thấy trong mãn dục nam. Công cụ này bao gồm 17 câu hỏi, cho phép ghi nhận những thay đổi trong điểm tổng thể, cho phép nghiên cứu sự tiến triển của bệnh và cho phép đánh giá một số tác động của các can thiệp điều trị đối với sức khỏe và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Bảng câu hỏi dành cho bệnh nhân đã được xác thực và được sử dụng ở Hoa Kỳ là bảng câu hỏi ADAM và MMAS, giống như AMS, tìm cách xác định khả năng tình dục của nam giới, chức năng cương dương, sức mạnh và cảm giác khỏe mạnh của bệnh nhân liên quan với quá trình lão hóa. Bảng câu hỏi MMAS được phát triển để sử dụng như một công cụ tự sàng lọc chăm sóc ban đầu, bao gồm 8 mục đánh giá cho phép một người đàn ông cao tuổi đánh giá các triệu chứng của mình và xem xét liệu có cần đến gặp bác sĩ để chẩn đoán thêm hay không. Kết quả giúp thông báo cho các bác sĩ về các yếu tố nguy cơ quan trọng của suy sinh dục. Bảng ADAM sử dụng 10 câu hỏi, đã được chứng minh là có độ nhạy 88% và độ đặc hiệu là 60% đối với tình trạng thiếu androgen. Bảng câu hỏi này đã được chứng minh là một công cụ sàng lọc hiệu quả ở nam giới trên 40 tuổi.

Tuổi và các yếu tố nguy cơ khác đối với Mãn dục nam

Ngoài tuổi cao, một số yếu tố

nguy cơ bổ sung đã được xác định liên quan đến các triệu chứng và đặc điểm của mãn dục nam. Là một phần của quá trình đánh giá kỹ lưỡng bệnh nhân có các triệu chứng giống Mãn dục nam, điều quan trọng là phải xem xét các tình trạng đồng gây bệnh có thể làm nền cho suy sinh dục, vì những điều này có thể ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc và lựa chọn điều trị khi xem xét chiến lược điều trị tối ưu cho từng người.

Trong nhiều năm, bệnh nhân tiểu đường type 2 đã được biết là có tỷ lệ testosterone thấp tăng lên. Ngay cả khi điều chỉnh độ tuổi và chỉ số khối cơ thể (BMI), khoảng 21% nam giới mắc bệnh tiểu đường có mức testosterone thấp so với 13% người không mắc bệnh tiểu đường đối chứng. Vì phần lớn các đối tượng mắc bệnh tiểu đường type 2 lớn tuổi, nhiều người cũng béo phì và có biểu hiện của hội chứng chuyển hóa, nên rất khó để xác định liệu có một số đặc điểm riêng của bệnh tiểu đường ảnh hưởng đến chức năng tuyến sinh dục và dẫn đến các dấu hiệu của mãn dục nam hay không. Thậm chí đã có cuộc tranh luận sau các nghiên cứu cắt ngang quy mô lớn về việc liệu suy sinh dục có nên được xem như một yếu tố nguy cơ của bệnh tiểu đường hay không. Rõ ràng là từ nghiên cứu trên bệnh nhân tiểu đường type 2, trái ngược với các nhóm lão hóa khác – những người có mức SHBG tăng theo thời gian, các đối tượng mắc bệnh tiểu đường có mức SHBG thấp hơn, ngay cả khi được hiệu chỉnh theo BMI.

Béo phì đơn thuần hoặc kết hợp với bệnh tiểu đường, cũng có vẻ là một yếu tố nguy cơ của Mãn dục nam. Có một mối quan hệ nghịch giữa BMI và nồng độ testosterone, khi béo phì tăng thì việc sản xuất testosterone bị suy giảm. Những thay đổi trong một số hormone chuyển hóa quan trọng xảy ra ở trạng thái béo phì như hormone tăng trưởng, insulin, leptin và DHEA, cũng như testosterone, tất cả đều có thể ảnh hưởng đến thành phần cơ thể, sự trao đổi chất và tâm trạng. Béo phì, đặc biệt là béo phì nội tạng, dẫn đến bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2. Xác định tác động của nhiều bệnh đồng thời và chẩn đoán thiểu năng sinh dục ở nam giới béo phì và cao tuổi là cả “một nghệ thuật phức tạp”. Dường như như béo phì, giống như bệnh tiểu đường, có liên quan đến việc giảm mức tổng testosterone và SHBG. Có tới 64% nam giới bị cả béo phì và tiểu đường có mức testosterone toàn phần thấp, so với 38% đối tượng không mắc bệnh tiểu đường. Không có mối liên quan đáng kể nào có thể được chỉ ra giữa tăng lipid máu hoặc tăng huyết áp với thiểu năng sinh dục ở những người béo phì, nhưng chỉ số BMI> 27 kg/m2 được tìm thấy có tương quan có ý nghĩa với suy sinh dục.

Các yếu tố nguy cơ khác được báo cáo về thiểu năng sinh dục và Mãn dục nam bao gồm hút thuốc, suy dinh dưỡng, nghiện rượu và bệnh mãn tính.

Sự gia tăng số lượng đàn ông lão hóa với Mãn dục nam đã thúc đẩy sự quan tâm của tác động sinh lý và hậu quả bệnh lý của việc giảm mức testosterone, và đã dẫn đến những cải tiến trong định nghĩa và mô tả các đặc điểm chẩn đoán Mãn dục nam. Tuy nhiên, Hiệp hội các nhà nội tiết lâm sàng Hoa Kỳ cho rằng nam giới bị suy sinh dục có các triệu chứng “thường bị bệnh nhân từ chối và bác sĩ bỏ qua”. Việc đánh giá chẩn đoán bệnh nhân có các dấu hiệu và triệu chứng của mãn dục nam vẫn còn là một chủ đề tranh luận, nhưng với sự đồng thuận ngày càng tăng về những gì tạo nên sự thiếu hụt androgen, và với các công cụ đánh giá bệnh nhân mới, có thể sàng lọc và đánh giá nhiều bệnh nhân nam đến khám với bác sĩ hơn về vấn đề suy giảm testosterone và để phân biệt những bệnh nhân này với những bệnh nhân khác.

Ân cần hướng dẫn người bệnh.

Điều trị

Điều trị bổ sung testosterone được khuyến nghị cho những người có triệu chứng với mức testosterone toàn phần dưới 8 nmol/L (231 ng/dL). Theo y văn, mức testosterone toàn phần trên 12 nmol/L (346 ng/dL) được coi là mức sinh lý bình thường. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân có mức testosterone toàn phần từ 8 đến 12 nmol/L và có các triệu chứng Mãn dục nam điển hình, cũng cần được điều trị.

Các vấn đề thách thức trong chẩn đoán mãn dục nam cũng được phản ánh trong việc lựa chọn bệnh nhân đủ điều kiện điều trị. Liệu pháp hormone bổ sung được khuyến nghị cho những nam giới có các triệu chứng của mãn dục nam và có mức testosterone thấp. Thật không may, trong thực hành, không phải lúc nào cũng dễ dàng đề nghị bổ sung testosterone cho những bệnh nhân này. Các trường hợp được đề cập ở trên là những bệnh nhân mãn dục nam điển hình và việc bổ sung testosterone có thể được bắt đầu trừ khi có chống chỉ định. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân nồng độ testosterone trong giới hạn bình thường, mặc dù có các triệu chứng, và những bệnh nhân khác không có bất kỳ phàn nàn nào mặc dù mức testosterone thấp hơn. Những yếu tố này chỉ ra rằng mức testosterone thấp không phải là yếu tố căn nguyên duy nhất của mãn dục nam làm phức tạp quyết định thực hiện liệu pháp thay thế testosterone. Vì tất cả các yếu tố liên quan này, và các tác dụng phụ tiềm ẩn của nó, liệu pháp bổ sung testosterone (TRT) không được ưa chuộng trong quá khứ. Tuy nhiên, hiện nay, các nghiên cứu liên quan đã được tiến hành, các chiến thuật điều trị đã được phát triển và các hiệp hội chuyên ngành quan tâm đến chủ đề này đã khuyến nghị liệu pháp thay thế testosterone trong điều trị mãn dục nam.

Mục tiêu điều trị trong điều trị Mãn dục nam là thay thế lượng testosterone bị thiếu hụt. Cho đến nay, bất kỳ phương pháp điều trị dựa trên bằng chứng nào khác ngoại trừ liệu pháp thay thế testosterone đều không được khuyến cáo. Với phương pháp điều trị này, sự cải thiện về ham muốn tình dục và chức năng cương dương được ưu tiên. Về mặt lý thuyết, các sản phẩm được sử dụng phải là sản phẩm tự nhiên, nội sinh và giữ được nồng độ của hormone liên quan ở mức sinh lý. Bên cạnh đó, chất chuyển hóa có hoạt tính của nó cần an toàn và làm giảm các triệu chứng mà không gây ra bất kỳ tác dụng phụ nào lớn. Tuy nhiên, một loại thuốc chứa tất cả các tính năng đã liệt kê như vậy hiện không có sẵn. Phương thức điều trị tiêu chuẩn vẫn chưa được xây dựng. Có các loại testosterone dưới dạng uống, tiêm, ngậm dưới lưỡi, bôi, miếng dán. Phương thức điều trị thích hợp cần được xác định dựa trên yêu cầu của bệnh nhân và bác sĩ, chi phí điều trị, và đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp điều trị.

Do có phản hồi tiêu cực của testosterone ngoại sinh đối với trục dưới đồi-tuyến yên-tinh hoàn, rủi ro và tác dụng phụ của các loại testosterone khác nhau, các giải pháp thay thế khác đã được tìm kiếm để điều trị mãn dục nam. Trong số các lựa chọn thay thế này, điều trị bằng kháng estrogen được sử dụng hiện nay. Các hoạt chất như clomiphene citrate liên kết yếu với các thụ thể estradiol và kích thích trục dưới đồi-tuyến yên-tinh hoàn với phản hồi tiêu cực của nó và tăng giải phóng testosterone nội sinh đã được nghiên cứu. Các kết quả của nghiên cứu bước đầu cho thấy là thuận lợi, hiệu quả (đặc biệt là cải thiện ham muốn), tuy nhiên cần tiếp tục đánh giá thêm.

Tác dụng có lợi của liệu pháp bổ sung testosterone

Bình thường hóa mức testosterone có thể cải thiện hầu hết các ảnh hưởng của suy sinh dục. Bổ sung testosterone làm cho bệnh nhân cảm thấy mình tràn đầy năng lượng và sống tốt hơn. Nó tác động tốt đến trạng thái cảm xúc, chức năng tình dục, chỉ số khối cơ thể, hệ tim mạch, mật độ khoáng xương và tạo hồng cầu. Nhờ những tác dụng thuận lợi này của testosterone, việc sử dụng nó đã được gia tăng trong những năm gần đây. Tác động đến cơ thể gồm có cải thiện khối lượng cơ bắp, giảm khối lượng chất béo, tăng sức mạnh cơ bắp ở người cao tuổi gầy hoặc béo vừa phải, tăng mật độ khoáng xương cột sống thắt lưng…

Rủi ro của liệu pháp thay thế testosterone có liên quan với tuổi tác, điều kiện sống và các trạng thái y tế khác của bệnh nhân. Khi có ung thư tuyến tiền liệt, các triệu chứng tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, nhiễm độc gan, khối u, các triệu chứng ngưng thở khi ngủ, phì đại tuyến vú, vô sinh, các bệnh về da… bổ sung testosterone làm tăng các nguy cơ cho những bệnh nhân này. Nếu người nam giới có kế hoạch làm cha, sẽ không thích hợp vì bổ sung testosterone có nguy cơ ức chế trục dưới đồi-tuyến yên-tinh hoàn. Những rủi ro tiềm tàng của liệu pháp thay thế testosterone là gây ra sự tiến triển của ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt, làm xấu đi triệu chứng của tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, gây khối u gan và độc tính, phì đại tuyến vú, gây tăng hồng cầu, gây vô sinh và teo tinh hoàn, gây bệnh ngoài da, gây ra chứng ngưng thở khi ngủ.

Chống chỉ định tuyệt đối là ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt chưa được điều trị. Chống chỉ định tương đối gồm có biến cố tim mạch cấp tính cũng như suy tim sung huyết không kiểm soát hoặc kiểm soát kém, các triệu chứng đường tiết niệu dưới nặng (điểm số triệu chứng tiền liệt tuyến IPSS > 19), mức hematocrit cao hơn 54%, nam giới có nguy cơ cao như bị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) hoặc Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS). Các tình trạng này nên được đánh giá bằng tiền sử bệnh chi tiết, khám sức khỏe và xét nghiệm trước khi bắt đầu liệu pháp thay thế testosterone.

Trước khi bắt đầu điều trị và sau đó đánh giá định kỳ nên được thực hiện chặt chẽ ở những bệnh nhân sử dụng liệu pháp thay thế testosterone để tránh các tác dụng phụ và rủi ro của điều trị. Trước khi bắt đầu liệu pháp, nên phân tích testosterone toàn phần, PSA, men gan, lipid, hemoglobin và hematocrit, đánh giá các nguy cơ sau điều trị và các tác dụng ngoại ý. Các xét nghiệm này nên được lặp lại trong những khoảng thời gian nhất định. Mục tiêu điều trị là đạt mức testosterone 350 – 1050 ng/dL. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân chỉ có thể đạt được giá trị bình thường-thấp.

Như đã nói ở trên, thiểu năng sinh dục thường liên quan đến béo phì và rối loạn chuyển hóa. Vì vậy, giảm cân và thay đổi lối sống nên là cách tiếp cận đầu tiên cho tất cả những nam giới thừa cân và béo phì bị thiểu năng sinh dục. Một phân tích tổng hợp trước đây đã ghi nhận rằng chế độ ăn ít calo có thể phục hồi thiểu năng sinh dục thứ phát liên quan đến béo phì bằng cách tăng nồng độ testosterone toàn phần và tự do, giảm oestrogen và khôi phục mức lưu thông gonadotropin bình thường. Điều này đã được xác nhận trong một phân tích mới cập nhật gần đây cho thấy sự gia tăng testosterone có liên quan đáng kể đến việc giảm cân. Kết quả tương tự có thể đạt được thông qua hoạt động thể chất, có liên quan đến chế độ tập thể dục và giảm cân.

TTƯT. PGS. TS. BS Nguyễn Quang

ThS. BS Trịnh Hoàng Giang

ThS. BS Nguyễn Hữu Thảo

TT Nam học – BV Hữu nghị Việt Đức

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Đàn ông dễ yếu chỗ nào?

Không ai vui gì khi nhận kết quả siêu âm với lời bàn “phì đại tiền liệt tuyến” nghe thấy ớn. Kẹt chính ở chỗ đàn ông khi mấp mé tuổi về hưu không ai …

Nam giới và khám sức khỏe tiền hôn nhân

Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ vô sinh cao. Điều đáng nói là mỗi năm có hàng trăm nghìn …

“Tinh binh” bị yếu vì đâu nên nỗi?

Năm mới, ai cũng chúc nhau sức khỏe dồi dào, vạn sự như ý, phúc lộc đến nhà, rồi các gia đình có con tuổi cập kê cưới hỏi thì cuối năm có thêm người …

Rối loạn cương dương

Rối loạn cương dương là một bệnh mang tính xã hội. Bệnh tuy không gây tử vong, cũng không cần phải xử trí cấp cứu nhưng về lâu dài gây ảnh hưởng sâu sắc đến …

Ngành Nam học và công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới

Theo Tổ chức Y tế Thế giới: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi