Loãng xương và gãy cổ xương đùi ở người già – tử vong và tàn phế

Loãng xương là bệnh lý khá phổ biến, chỉ xếp sau các bệnh lý tim mạch. Thế giới hiện có khoảng 200 triệu người mắc bệnh loãng xương, tại Việt Nam là khoảng 2.5 triệu người. Biến chứng đáng sợ nhất của loãng xương là gãy xương, một trong những nguyên nhân hàng đầu của tử vong và tàn phế, đặc biệt là gãy cổ xương đùi do loãng xương người già.

 

Tổng quan về loãng xương

Cấu tạo xương người là một mạng lưới các bè xương liên kết với nhau. Ở người bình thường, bè xương có số lượng dầy đặc và cấu trúc toàn vẹn, tạo nên bộ khung vững chắc nâng đỡ cơ thể. Ở người bị loãng xương, bè xương suy giảm cả lượng lẫn chất, xương trở nên xốp, giòn và dễ gãy.

Hàng năm, số bệnh nhân nhập viện vì gãy xương do loãng xương cao hơn cả đột quỵ, đau tim và ung thư vú, với khoảng 9 triệu người trên toàn thế giới và 150.000 người tại Việt Nam. Một nửa phụ nữ Mỹ trên 50 tuổi tiềm ẩn nguy cơ gãy xương do loãng xương.

 

Phân loại loãng xương

Tạo xương và hủy xương là 2 quá trình sinh lý đối nghịch diễn ra suốt đời người, xương mới tạo ra thay cho xương cũ mất đi. Khi ta còn trẻ, tạo xương mạnh hơn hủy xương, khối lượng xương tăng dần, ngân hàng xương ngày càng dồi dào và “thặng dư” tối đa đạt lúc khoảng 35 tuổi, xương rất chắc khỏe. Sau độ tuổi này, hủy xương mạnh hơn tạo xương, khối lượng xương vơi dần, ngân hàng xương ngày càng kiệt quệ, xương kém khỏe, cuối cùng sẽ là thiếu xương (osteopenia) và nặng nhất là loãng xương (osteoporosis). Như vậy, loãng xương là diễn tiến tự nhiên không thể tránh khỏi, sớm muộn gì rồi cũng sẽ đến. Nói cách khác, thần thời gian Chronus chính là thủ phạm gây loãng xương, y khoa gọi đây là loãng xương nguyên phát hay loãng xương người già.

Loãng xương về cơ bản là bệnh lý của người lớn tuổi, tuy nhiên “đặc ân” này còn có thể dành cho các đối tượng ít tuổi hơn. Phụ nữ tuổi trung niên khi bước vào thời kỳ mãn kinh, từ khoảng sau 45 tuổi, nội tiết tố estrogen suy giảm thúc đẩy quá trình hủy xương, loãng xương sẽ đến sớm, y khoa gọi là loãng xương sau mãn kinh. Người trẻ tuổi nếu cõng theo mình các yếu tố ức chế tạo xương hoặc thúc đẩy hủy xương như bệnh lý mạn tính hoặc cắt dạ dày – ruột, khiến giảm hấp thu canxi qua đường tiêu hóa, suy thận mạn khiến giảm tái hấp thu canxi ở ống thận gây mất nhiều canxi qua nước tiểu, suy buồng trứng sớm (mãn kinh trước 35 tuổi), cắt buồng trứng sớm (trước 45 tuổi), cường tuyến cận giáp, cường vỏ thượng thận, sử dụng corticoid hoặc thuốc chống động kinh kéo dài… đều có thể sớm mắc bệnh loãng xương, y khoa gọi là loãng xương thứ phát. Loãng xương sau mãn kinh và loãng xương thứ phát thúc đẩy loãng xương nguyên phát đến sớm hơn với mức độ nặng hơn.

Cần nêu bật vai trò của canxi trong sinh lý tạo xương. Canxi là nguồn nguyên liệu thiết yếu cung cấp cho nhà máy (tế bào tạo xương) sản xuất ra xương. Thiếu canxi thì dù nhà máy có hoạt động sung mãn, năng suất sinh xương cũng chỉ dừng ở mức hạn chế.

Triệu chứng của loãng xương

Loãng xương thường diễn tiến âm thầm, không triệu chứng trong nhiều năm. Một khi biểu hiện triệu chứng, đồng nghĩa với bệnh đã nặng, ít nhất 30% khối lượng xương đã mất.

Đau là triệu chứng hay gặp nhưng thường khá mơ hồ, bệnh nhân hay mô tả cảm giác “đau trong xương” một cách chung chung, cũng bởi mơ hồ mà bác sĩ thường bỏ qua.

Chiều cao cơ thể giảm dần, bệnh nhân ngày càng lùn, gù lưng và dáng đi khòm, hậu quả của xẹp các đốt sống do loãng xương, còn gọi là gãy lún.

 

Chẩn đoán loãng xương

Đo mật độ xương tại cột sống thắt lưng và cổ xương đùi bằng phương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép, hay gọi là phương pháp DEXA (dual energy X-ray absorptiometry), là xét nghiệm phổ biến nhất hiện nay, độ tin cậy cao, được xem là “tiêu chuẩn vàng” chẩn đoán loãng xương.

Đo mật độ xương tại gót chân bằng phương pháp siêu âm không thật sự chính xác, chỉ dùng để tầm soát loãng xương trong cộng đồng.

Hình ảnh xương trên X-quang, CT, MRI cũng có giá trị chẩn đoán khi kết hợp với lâm sàng.

Gãy cổ xương đùi do loãng xương người già

Gãy xương là biến chứng đáng sợ nhất của loãng xương, lý do thông thường nhất khiến bệnh nhân đến bệnh viện. Ở chiều ngược lại, 70% bệnh nhân bị gãy đốt sống do loãng xương từ lâu nhưng hoàn toàn không hay biết. Ba dạng gãy xương thường gặp nhất là gãy cổ tay, gãy cổ xương đùi, gãy đốt sống. Gãy xương thường có đặc tính gãy tự nhiên hay chỉ sau một lực tác động nhẹ. Một cái chống nhẹ tay vào tường đã gãy cổ tay, một cú ngã đập mông nhẹ xuống đất từ tư thế ngồi xổm đã gãy cổ xương đùi, một tiếng ho hay hắt xì hơi đã gãy xương sườn…

Gãy cổ xương đùi do loãng xương người già được quan tâm nhiều nhất bởi bức tranh xám xịt mà nó vẽ nên, sau đây là vài họa tiết chính:

  • Giải phẫu bè xương tại cổ xương đùi khiến nơi đây trở thành một điểm yếu; cổ xương đùi là nơi gánh chịu lực tải từ toàn bộ thân mình ở phía trên; loãng xương khiến cổ xương đùi xốp, giòn, kém vững. Tất cả khiến cho gãy cổ xương đùi do loãng xương rất dễ xảy ra.

  • Gãy cổ xương đùi rất khó liền, điều trị là một thách thức lớn, trước đây hầu như không có phương pháp điều trị. Phẫu thuật thay chỏm xương đùi nhân tạo hoặc thay khớp háng nhân tạo là một thành tựu gần đây của y học, cứu cánh của không ít bệnh nhân. Nhưng đây là một phẫu thuật lớn, cuộc mổ an toàn trên cơ địa bệnh nhân lớn tuổi với nhiều bệnh lý mạn tính về hô hấp, tim mạch… là vấn đề nan giải, nguy cơ cao mắc phải các biến chứng hậu phẫu nặng nề như viêm phổi, thuyên tắc phổi, nhồi máu cơ tim… dễ dẫn đến tử vong, chưa kể chi phí cuộc mổ là khá lớn. Còn nếu chọn phương pháp cổ điển là bảo tồn, người bệnh sẽ phải nằm một chỗ trong tình trạng đau đớn nhiều tháng liền chờ cho xương lành, khoảng thời gian này chính là “mảnh đất màu mỡ” cho hàng loạt nguy cơ như loét điểm tì, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, huyết khối thuyên tắc phổi… và cuối cùng là tử vong. Còn nếu sống thì xác suất liền xương với điều trị bảo tồn là rất thấp (do xương di lệch nhiều), đặc biệt trên cơ địa loãng xương, khớp giả hình thành, người bệnh xem như trở thành tàn phế.
  • Nghiên cứu tại Anh cho thấy 25-30% bệnh nhân tử vong trong vòng 1 năm đầu sau khi bị gãy cổ xương đùi; 1 năm sau khi bị gãy cổ xương đùi, 27% phải nằm lại bệnh viện để được chăm sóc dài hạn, 40% không thể tự đi lại mà không có sự trợ giúp, 60% gặp khó khăn khi thực hiện những việc bình thường trong sinh hoạt hàng ngày, 80% gặp khó khăn trong các hoạt động như lái xe hay đi mua sắm. Tại Ý, mỗi năm có khoảng 80.000 người bị gãy cổ xương đùi do loãng xương, chi phí điều trị trong năm 2012 ngốn hết 1.1 tỷ euro.

 

Điều trị và phòng ngừa loãng xương

Loãng xương là quy luật tất yếu của thời gian, nhưng nói vậy không có nghĩa ta sẽ khoanh tay đứng nhìn và chịu trận. Loãng xương có thể phòng ngừa để làm chậm sự xuất hiện hoặc nếu xuất hiện cũng chỉ ở mức độ nhẹ. Nguyên tắc phòng ngừa và điều trị loãng xương có nhiều điểm chung nhau:

  • Bữa ăn giàu canxi là rất quan trọng. Sữa, bơ, phô mai, rau màu xanh đậm, đậu nành, hạnh nhân, hải sản… là các loại thực phẩm giàu canxi. Tuy nhiên, không phải ai cũng có điều kiện chế biến bữa ăn đầy đủ canxi, nếu vậy phải bổ sung canxi dạng thuốc. Bữa ăn hàng ngày thường chỉ đảm bảo cung cấp 50-60% nhu cầu canxi của cơ thể (1-1.5 g/ngày).
  • Vitamin D cũng quan trọng như canxi bởi có vitamin D, canxi mới được hấp thu. Nhu cầu cơ thể cần 600-800 UI vitamin D mỗi ngày. Ánh nắng mặt trời là nguồn cung vitamin D thiên nhiên tuyệt vời, nên dành ra 15-30 phút tắm nắng mỗi buổi sáng. Nếu không có điều kiện tắm nắng đầy đủ, bổ sung vitamin D dạng thuốc.
  • Nhiều thuốc có tác dụng ức chế hoạt tính tế bào hủy xương sử dụng điều trị loãng xương, phổ biến nhất là nhóm bisphosphonat (alendronat, zoledronic axit). Thuốc cũng có thể dùng để phòng ngừa loãng xương trong trường hợp cần thiết, chẳng hạn sử dụng liệu pháp thay thế estrogen (raloxifen) cho phụ nữ sau mãn kinh có nguy cơ loãng xương cao…

  • Chơi thể thao, tập thể dục như đi bộ, chạy bộ, thể dục dưỡng sinh, gym, yoga, aerobic… giúp củng cố sức mạnh của xương, tăng sức mạnh và độ dẻo dai cơ bắp giúp cơ thể giữ thăng bằng khó té ngã, giảm nguy cơ gãy xương. Người bệnh loãng xương chỉ nên tập với cường độ vừa phải, tránh vận động quá mạnh có thể dẫn đến gãy xương.
  • Vô hiệu hóa ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ gây loãng xương, chẳng hạn không sử dụng dài ngày các thuốc nhóm corticoid nếu không thật sự cần thiết, hạn chế sử dụng các chất ức chế tạo xương như thuốc lá, bia, rượu… hạn chế sử dụng các chất làm giảm hấp thu canxi qua đường tiêu hóa như cà phê, ca cao, sô-cô-la…
  • Đề phòng gãy xương ở người loãng xương bằng cách sử dụng nẹp chỉnh hình giảm bớt lực tì đè lên cột sống, khung chậu, khớp háng, nhà đầy đủ ánh sáng, sàn nhà tránh trơn trượt, mang dụng cụ bảo vệ chậu hông khi đi lại…

Chữa bệnh thì chữa kéo dài, thường mất 3-5 năm tùy mức độ loãng xương. Phòng bệnh thì phòng suốt đời, bắt đầu ngay từ khi còn trong bào thai, bà mẹ cần ăn uống đầy đủ canxi và vitamin D. Và bao giờ cũng vậy, phòng bệnh luôn tốt hơn chữa bệnh!

“Love Your Bones – Hãy yêu thương bộ xương của bạn”, đó là thông điệp mà cứ đến ngày 20/10 hàng năm – Ngày loãng xương thế giới (World Osteoporosis Day), Hiệp hội Loãng xương thế giới lại tuyên truyền nhằm đánh thức mối quan tâm của cộng đồng dành cho loãng xương, căn bệnh rất thường gặp với nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe, kinh tế, xã hội cho cả cá nhân, gia đình và quốc gia.

BS Tạ Vương Khoa

Chuyên khoa Khoa Thần kinh

Cơ xương khớp, Bệnh viện 175

Theo Tạp chí Sức khỏe 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Bệnh loãng xương ở người cao tuổi các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị

Từ hai thập niên gần đây, loãng xương (LX) đã trở thành vấn đề y tế cộng đồng vì nhiều người mắc (bệnh ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/5 đàn ông trên 50 …

Tai biến mạch máu não - Những điều cần biết

Tai biến mạch máu não là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Bệnh thường để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, biến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và …

Khi người bệnh hiểu sai về ung thư - Sai 1 li - Đi mạng người!

“Có những sai lầm mà con người có thể sửa chữa và làm tốt hơn. Nhưng những sai lầm về căn bệnh ung thư sẽ không còn cơ hội sửa chữa mà phải trả giá …

Rối loạn trí tuệ sau phẫu thuật ở người cao tuổi

Người cao tuổi, sẽ thường gặp những vấn đề liên quan đến té ngã. Và sau chấn thương gãy xương hoặc các cơn đau như thoái hóa khớp, thoái hóa hay gãy cột sống lưng… …

Nguy hiểm khi gãy xương vùng khớp háng ở người cao tuổi

Gãy xương vùng khớp háng có thể xảy ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều nhất ở người lớn tuổi từ các chấn thương rất nhẹ. Đây là một chấn thương gây ra hậu quả …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi