Khủng hoảng trong điều trị loãng xương và giải pháp APCO

điều trị loãng xương và giải pháp APCOLoãng xương là một bệnh lý chuyển hoá với 2 đặc điểm chính: lượng chất khoáng trong xương bị suy giảm và cấu trúc sinh học của xương bị suy thoái. Hai đặc điểm này là hệ quả của sự mất cân đối trong chu trình huỷ xương và tạo xương.

điều trị loãng xương và giải pháp APCOỞ tuổi sau mãn kinh (nữ giới) và sau 60 tuổi (nam giới) các tế bào hủy xương trở nên “tích cực” hơn các tế bào tạo xương, dẫn đến tình trạng chất khoáng trong xương (bone mineral content) bị suy giảm và cơ cấu xương bị tổn hại. Khi mật độ xương bị suy giảm và cơ cấu xương bị thoái hoá, xương trở nên kém đàn hồi, yếu đi và dễ bị gãy khi va chạm một lực nhỏ. Một cái té ngã cũng có thể dẫn đến gãy xương. Một cái hắt hơi cũng có thể gây gãy xương. Do đó, gãy xương là hệ quả của loãng xương, như đột quỵ là hệ quả của cao huyết áp.

Gãy xương là một biến cố nghiêm trọng vì nó làm giảm tuổi thọ của bệnh nhân. Bệnh nhân gãy xương đùi có thể mất đi xx tuổi thọ. Gãy xương đốt sống (thường diễn ra một cách âm thầm, không triệu chứng) vẫn có thể làm mất đi 3-5 năm tuổi. Mối liên quan giữa gãy xương và tuổi thọ ít người biết đến, nhưng đó là một thực tế. Ngày nay, nhận thức về ảnh hưởng của gãy xương đến tử vong đã làm thay đổi cách hiểu về loãng xương như là một vấn đề nghiêm trọng như ung thư và bệnh tim mạch.

Có nhiều thuốc an toàn có hiệu quả chống loãng xương. Các thuốc này có thể chia thành 2 nhóm: giảm chu trình huỷ xương (antiresorptive) và tăng chu trình tạo xương (anabolic agents). Nhóm chống huỷ xương tiêu biểu là bisphosphonates (như alendronate và zoledronate) và mới hơn là denosumab. Nhóm tăng tạo xương bao gồm teriparatide và mới đây là romosozumab. Các loại thuốc vừa kể có thể tăng mật độ xương từ 5% đến 15% và giảm nguy cơ gãy xương từ 50% đến 70% sau 2 năm điều trị [1].

điều trị loãng xương và giải pháp APCOThuốc chống huỷ xương có làm giảm nguy cơ tử vong?

Câu trả lời là có. Bằng chứng từ một số thử nghiệm lâm sàng gần đây cho thấy zoledronate quả thật có hiệu quả giảm tử vong sau gãy xương. Nghiên cứu trên 2127 bệnh nhân loãng xương (phân nửa được điều trị bằng zoledronate) cho thấy zoledronate giảm nguy cơ tử vong 28% so với nhóm chứng [2]. Một nghiên cứu khác trên 2000 bệnh nhân thiếu xương / osteopenia cũng cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng zoleddonate có nguy cơ tử vong thấp hơn nhóm chứng khoảng 35% (khoảng tin cậy 95%, 0.40 – 1.05) [3].

Như vậy, bằng chứng nghiên cứu lâm sàng cho thấy một cách nhất quán rằng bisphosphonates có hiệu quả cao trong việc ngừa gãy xương. Các thuốc này cũng giảm nguy cơ tử vong từ gãy xương [4]. Nếu mối liên quan giữa gãy xương và tử vong là mối liên hệ nhân quả, thì chúng ta kì vọng rằng điều trị bệnh nhân bị gãy xương sẽ giảm nguy cơ tử vong. Và, trong thực tế bằng chứng cho thấy đúng như thế!

điều trị loãng xương và giải pháp APCODo đó, tất cả các phác đồ điều trị loãng xương đều khuyến cáo rằng bệnh nhân bị gãy xương nên được điều trị. Thời gian lý tưởng để điều trị là ngay sau khi bị gãy xương để ngừa gãy xương lần hai và giảm nguy cơ tử vong.

Tuy nhiên, một vấn đề nan giải trong chuyên ngành loãng xương hiện nay là đa số bệnh nhân bị gãy xương không được điều trị. Theo nhiều nghiên cứu ở Mỹ, Úc, châu Âu, và châu Á, tỉ lệ bệnh nhân gãy xương được điều trị chỉ trong khoảng 20 đến 30%. Nói cách khác, có đến 70-80% bệnh nhân gãy xương không được điều trị. Đó là một sự khủng hoảng.

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu và quan sát của chúng tôi cũng cho thấy rất ít bệnh nhân gãy xương được điều trị thích hợp. Trong một kiểm kê lâm sàng ở một bệnh viện tại TP.HCM, trong số hơn 500 bệnh nhân gãy xương sau khi phẫu thuật không ai được cho thuốc bisphosphonate. Chỉ có một số bệnh nhân từ các phòng mạch tư được điều trị. Quả thật, ngoài một số bác sĩ chuyên khoa am hiểu loãng xương, đa số các bác sĩ gia đình không biết phác đồ điều trị loãng xương. Đây là một trong những lý do mà đa số bệnh nhân gãy xương và loãng xương không được chăm sóc đúng phương pháp.

điều trị loãng xương và giải pháp APCOĐể giải quyết vấn đề thiếu điều trị trên, tổ chức APCO (Asia Pacific Consortium on Osteoporosis) đã được thành lập. APCO là một nhóm chuyên gia về loãng xương từ các nước trong vùng châu Á – Thái Bình Dương, kể cả Việt Nam. Sứ mệnh của APCO là xây dựng chiến lược để cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân loãng xương. Trong năm qua và năm nay (2021), APCO đã tổ chức nhiều hội thảo chuyên đề đề ra một cái khung tham chiếu cho việc điều trị loãng xương. Kết quả của các hội thảo này là 16 tiêu chuẩn tối thiểu (minimum standards) mà APCO muốn chia sẻ cùng các hiệp hội loãng xương và các chuyên gia đang chăm sóc bệnh nhân loãng xương trong vùng [5,6].

16 tiêu chuẩn tối thiểu này nhấn mạnh đến việc nhận dạng những cá nhân (nam và nữ) có nguy cơ cao để can thiệp. Đó là những người đã bị gãy xương, chưa bị gãy xương nhưng loãng xương, chưa phải là loãng xương nhưng có nguy cơ gãy xương cao, những người dùng các thuốc có ảnh hưởng xấu đến sự chuyển hoá của xương… Các phương tiện để đánh giá nguy cơ bao gồm mô hình Garvan và FRAX. Một số tiêu chuẩn liên quan đến đánh giá bằng các phương tiện như DXA, MRI, VFA. Đánh giá nguy cơ té ngã ở người cao tuổi cũng là một trong những tiêu chuẩn tối thiểu. APCO khuyến cáo nên theo dõi các bệnh nhân sau đã được điều trị để đánh giá hiệu quả của can thiệp. APCO kêu gọi sự phối hợp giữa các bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa nội tiết và cơ xương khớp, các bác sĩ ngoại khoa và y tá để bảo đảm bệnh nhân cần được điều trị nên được điều trị.

Tóm lại, 16 tiêu chuẩn tối thiểu của APCO là một đóng góp quan trọng nhằm khắc phục tình trạng thiếu điều trị ở bệnh nhân loãng xương [6]. Khung tiêu chuẩn này hy vọng sẽ trở thành một khung kiểu mẫu cho các Hiệp hội Loãng xương tham khảo và điều chỉnh cho hợp với điều kiện địa phương.

Về tác giả

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là một trong những sáng lập viên của Hội loãng xương TP.HCM, hiện nay ông là Giáo sư và Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế thuộc Đại học Công nghệ Sydney (UTS), và Giáo sư y thuộc Đại học New South Wales (UNSW Sydney). Ông là người Việt đầu tiên được bầu làm viện sĩ (Fellow) Viện hàn lâm y học Australia, viện sĩ Hàn lâm học viện New South Wales, và viện sĩ của Hiệp hội loãng xương Hoa Kỳ. Ngày Quốc khánh Úc năm 2022 ông được Đại diện Nữ Hoàng Elizaabeth trao Huân chương Australia vì những đóng góp quan trọng cho chuyên ngành loãng xương và giáo dục đại học quốc tế.

 

Tài liệu tham khảo:

[1] Compston JE, McClung MR, Leslie WD. Osteoporosis. Lancet 2019; 393:364-376.

[2] Lyles KW, Colón-Emeric CS, Magaziner JS, Adachi JD, Pieper CF, Mautalen C, Hyldstrup L, Recknor C, Nordsletten L, Moore KA, Lavecchia C, Zhang J, Mesenbrink P, Hodgson PK, Abrams K, Orloff JJ, Horowitz Z, Eriksen EF, Boonen S, HORIZON Recurrent Fracture Trial. Zoledronic acid and clinical fractures and mortality after hip fracture. N Engl J Med 2007;357(18):1799-809

[3] Reid IR, Horne AM, Mihov B, Stewart A, Garratt E, Wong S, Wiessing KR, Bolland MJ, Bastin S, Gamble GD. Fracture Prevention with Zoledronate in Older Women with Osteopenia. N Engl J Med 2018;379(25):2407-2416.

[4] Bolland MJ, Grey AB, Gamble GD, Reid IR. Effect of osteoporosis treatment on mortality: a meta-analysis. J Clin Endocrinol Metab 2010;95(3):1174-81.

[5] Chandran M, Mitchell PJ, Amphansap T, Bhadada SK, Chadha M, Chan DC, et al. Development of the Asia Pacific Consortium on Osteoporosis (APCO) Framework: clinical standards of care for the screening, diagnosis, and management of osteoporosis in the Asia-Pacific region. Osteoporos Int. 2021;32(7):1249-75. 

[6] Chandran M, Ebeling PR, Mitchell PJ, Nguyen TV, Executive Committee of the Asia Pacific Consortium on O. Harmonization of osteoporosis guidelines. Paving the way for disrupting the status quo in osteoporosis management in the Asia Pacific. J Bone Miner Res. 2022. Epub 2022/03/14. doi: 10.1002/jbmr.4544.

Giáo sư Y khoa Nguyễn Văn Tuấn

Đại học New South Wales

Giám đốc Trung tâm Công nghệ Y tế, Đại học Công nghệ Sydney (UTS)

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Tăng Acid Uric không triệu chứng

Tăng axit uric máu là một hiện tượng rối loạn sinh hóa rất phổ biến, có thể phát hiện được trong một lần xác định duy nhất urat huyết thanh ở 20 đến 25% nam …

Xử lý đúng ban đầu trong những trường hợp chấn thương

Gần 10% tổng số ca tử vong trên thế giới là do chấn thương. Chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở những người từ 1-50 tuổi và làm mất đi số …

Vật lý trị liệu giảm đau, giãn cơ trong đau vai gáy

Đau vai gáy là triệu chứng của nhóm các bệnh có liên quan chặt chẽ đến hệ thống cơ xương khớp và mạch máu vùng vai gáy. Đau vai gáy khiến người bệnh cảm thấy …

Liên quan giữa bệnh gút và những tổn thương thận

Có thực tế mà không phải bệnh nhân nào cũng biết: có mối liên hệ khá chặt chẽ giữa bệnh lý thận và bệnh gút. Không phải ngẫu nhiên khi một trong những điều nên …

Ứng dụng Laser công suất cao trong trị liệu bệnh lý cơ xương khớp, thần kinh và sau đột quỵ

Laser là một kỹ thuật mới và hiện đại. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, vật lý y sinh, laser công suất cao ngày càng được ứng dụng nhiều trong thể …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi