Khó chịu như nổi mày đay

Mày đay (Mề đay) là một bệnh da phổ biến, có khoảng 10 – 25% dân số có biểu hiện này ít nhất một lần trong đời. Mày đay mạn tính chiếm khoảng 0,5 – 1% dân số, bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi quốc gia trên thế giới. Bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây khó chịu bởi những cơn ngứa dữ dội, ảnh hưởng về mặt thẩm mỹ và thường xuyên tái phát, làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân.

Theo thống kê của bệnh viện Da Liễu Trung Ương (2007 – 2009) mày đay chiếm 4,1% tổng số bệnh nhân đến khám. Theo thống kê của bệnh viện Da Liễu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, số bệnh nhân mày đay đứng hàng thứ 3 trên tổng số bệnh da liễu đến khám mỗi năm – một con số không hề nhỏ!

Mày đay đặc trưng bởi sự biến động nhanh của sẩn phù đơn độc xuất hiện không quá 24 giờ. Trong hầu hết các trường hợp, sẩn phù có thể xuất hiện cùng phù mạch. Một sẩn phù bao gồm ba dấu hiệu tiêu biểu: sưng nề lan tỏa ở trung tâm hầu như luôn được bao quanh bởi một quầng hồng ban; thường kèm ngứa hoặc đôi khi là một cảm giác rát nóng. Đường kính của sẩn phù thường là vài milimet có khi lên đến 8 centimet trong trường hợp mày đay lan rộng. Ở trung tâm của sẩn phù, do sự chèn ép của các mao mạch bị giãn nên thường nhạt màu hơn ở ngoại vi. Hiện tượng giãn mạch và tăng tính thấm thành mạch xảy ra ở lớp bì nông và có liên quan đến đám rối tĩnh mạch sau mao mạch.

Mày đay được coi là cấp tính nếu nó kéo dài dưới 6 tuần. Hầu hết các đợt cấp là do các phản ứng bất lợi với thuốc hoặc thực phẩm, các bệnh do virus. Mày đay vượt quá 6 tuần được coi là mạn tính.

Phân loại mày đay

Theo hướng dẫn của EAACI/GA2LEN/ EDF/WAO 2013 thì mày đay được phân loại dựa vào thời gian tồn tại của thương tổn, tần suất và nguyên nhân. Mày đay mạn tính được phân thành mày đay mạn tính tự phát (CSU) và mày đay mạn tính do kích thích (CINDU). Các kích thích bao gồm kích thích vật lý và các yếu tố khác như nước, cholinergic, tiếp xúc… Nguyên nhân của CSU có thể là nhiễm trùng, bệnh tự miễn và thường là không rõ nguyên nhân. Phần lớn mày đay mạn tính là CSU (75%) và chiếm 0,5 – 1% dân số. Bệnh cảnh kết hợp nhiều nguyên nhân rất thường gặp và gây khó khăn cho việc chẩn đoán.

Một số dạng mày đay mạn tính do kích thích (CINDU):

  • Chứng da vẽ nổi: thể mề đay này đặc trưng bởi tình trạng da nổi hằn sau khi có ma sát, cọ xát, miết hoặc gãi cào.

  • Mày đay áp lực trì hoãn: các triệu chứng của mề đay áp lực sẽ xảy ra ở những vị trí có áp lực duy trì trong thời gian dài, ví dụ: Khu vực quần áo chật hoặc trên mông sau khi ngồi…
  • Mày đay do thay đổi nhiệt độ và stress.
  • Phù mạch do rung: các kích thích rung động gây ra sự giải phóng histamine từ tế bào mast như khi cọ xát khăn trên lưng gây ra các thương tổn mày đay, trong khi nếu đè nén trực tiếp thì không bị.
  • Mày đay do tiếp xúc nhiệt khu trú.
  • Mày đay do lạnh.
  • Mày đay do tiếp xúc khác: ánh sáng mặt trời, nước…
  • Mày đay tiếp xúc.

Mày đay mạn tính là một chẩn đoán lâm sàng dựa trên sự xuất hiện của các thương tổn mày đay đặc trưng, có hoặc không kèm theo phù mạch, xuất hiện ở hầu hết các ngày trong tuần và trong khoảng thời gian lớn hơn 6 tuần. Việc tìm ra nguyên nhân thúc đẩy mày đay mạn tính sẽ giúp kiểm soát bệnh tốt hơn.

Theo khuyến cáo của EAACI/GA2LEN/EDF/WAO (Các tổ chức da liễu, miễn dịch, dị ứng Châu Âu), nếu nghi ngờ bệnh nhân có khả năng bị mày đay mạn tính tự phát (CSU) thì nên tập trung vào hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, hạn chế việc chỉ định các xét nghiệm quá mức. Cũng nên hạn chế việc chỉ định các xét nghiệm. Các xét nghiệm có thể sử dụng thường quy bao gồm công thức máu, C-reative protein (CRP). Trường hợp CSU kéo dài có thể thực hiện thêm các xét nghiệm về nhiễm trùng (Ví dụ: Helicobacter pylori, ký sinh trùng), test lẫy da (SPT), test da huyết thanh tự thân (ASST) và sinh thiết da.

Các yếu tố liên quan trong mày đay mạn tính

  • Bệnh hệ thống: Các bệnh tuyến giáp, u ác tính, hội chứng Sjogren’s (là một bệnh lý tự miễn liên quan đến các tuyến ngoại tiết trong cơ thể như tuyến lệ, tuyến nước bọt) cũng có thể liên quan đến bệnh mày đay

  • Giả dị ứng nguyên: Mày đay mạn tính ít khi gây ra bởi giả dị ứng nguyên trong đồ ăn và trong thuốc. Tuy nhiên salicylate (là hóa chất được tìm thấy trong thực vật và là thành phần chính trong Aspirin và các loại thuốc giảm đau khác. Chúng cũng có trong nhiều loại trái cây và rau quả, cũng như trong nhiều sản phẩm làm đẹp và sức khỏe thông thường) hay chất phụ gia thêm vào có thể làm nặng thêm tình trạng mày đay mạn tính đang có.
  • Hít: Phấn hoa, bụi nhà, bào tử nấm mốc, khói thuốc lá, cỏ… có thể gây nên mày đay cấp tính hoặc mạn tính. Thường gặp ở bệnh nhân có tiền sử bệnh về hô hấp, khi phát bệnh có kèm theo triệu chứng về hô hấp. Tuy nhiên, trường hợp này rất hiếm gặp.
  • Nhiễm trùng: Nhiễm trùng có thể làm nặng lên mày đay mạn tính đang có (như nhiễm trùng răng miệng, tiết niệu, túi mật, viêm xoang…). Ngoài ra việc nhiễm Helicobacter pylori ở dạ dày, nhiễm Candida, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, nhiễm giun sán (Ancylostoma, Strongyloides, Toxocara…) cũng được ghi nhận có liên quan đến mày đay mạn tính.
  • Thuốc: Các NSAIDs như diclofenac và salicylate (thuốc giảm đau, kháng viêm không có steroid) có thể làm tình trạng mày đay sẵn có trầm trọng hơn. Khoảng 20 – 30% bệnh nhân bị nổi mày đay nặng lên do dùng aspirin tuy nhiên không nguy hiểm đến tính mạng. Thuốc ức chế men chuyển có thể gây phù mạch.
  • Thực phẩm và chất phụ gia: Nhiều loại thực phẩm vẫn được cảnh báo là có thể gây mày đay, tuy nhiên chỉ khoảng 3,5% trường hợp có thể tìm ra được nguyên nhân gây dị ứng. Các báo cáo cho rằng chất phụ gia làm nặng thêm tình trạng mày đay hiện có, có đến 33% bệnh nhân có tình trạng này, tuy nhiên vẫn chưa được báo cáo qua các nghiên cứu mù đôi. Đây là phương pháp nghiên cứu mà trong đó cả đối tượng được nghiên cứu và cả các nhà khoa học đều được “làm mù”. Cả thuốc thật và giả dược có hình dạng y hệt nhau (về màu sắc và hương vị) được phát cho các nhóm đối tượng. Một nhóm sử dụng thuốc và một nhóm sử dụng giả dược. Bệnh nhân và nhà nghiên cứu cũng không biết họ uống thuốc thật hay giả dược. Công việc thống kê sự cải thiện và hiệu quả sẽ được thực hiện bởi một bên thứ ba. Các chất phụ gia thực phẩm thường gặp gồm tartrazine (E102), thuốc nhuộm azo.
  • Kinh nguyệt và thai kỳ: Vẫn chưa rõ mối liên quan giữa thai kỳ và mày đay mạn tính. Mày đay có thể trở nặng hơn trước kỳ kinh nguyệt.
  • Stress: Yếu tố tâm lý góp phần khá lớn trong các đợt bùng phát mày đay. Một số nghiên cứu cho thấy trầm cảm, lo lắng có liên quan đến mày đay mạn tính.

Điều trị mày đay

Liệu pháp không dùng thuốc

  • Tránh tiếp xúc quá lâu, hạn chế bia rượu, đồ cay, tránh chà xát mạnh lên da, tránh lạm dụng một số thuốc (aspirin, NSAIDs…), mặc quần áo rộng rãi.
  • Loại bỏ các chất phụ gia thêm vào salicylate tự nhiên.
  • Tăng ngưỡng chịu đựng đối với các kích thích vật lý bằng cách lặp lại việc tiếp xúc có thể hữu ích với mày đay do lạnh, mày đay do nhiệt và mày đay do ánh sáng.
  • Liệu pháp ánh sáng với tia UV hoặc quang hóa trị liệu (PUVA) có thể hữu ích trong 1 số trường hợp.

Liệu pháp dùng thuốc

Sử dụng thuốc kháng histamin, các thuốc ức chế miễn dịch và thuốc sinh học tùy thuộc vào giai đoạn và mức độ của bệnh.

Xin cám ơn ThS. BS Nguyễn Duy Hải

Phòng khám Da liễu – Thẩm mỹ Dr Duy Hải

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của bệnh động mạch vành

Bệnh động mạch vành là một loại bệnh rất phổ biến và nguy hiểm. Hiện nay, bệnh này đang là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Chính vì vậy, cần …

Vai trò của Y học cổ truyền trong điều trị ung thư

Nếu như với Tây y, việc điều trị Ung thư được phối hợp nhiều phương pháp tuỳ thuộc vào giai đoạn phát hiện và chẩn đoán xác định loại ung thư. Thì từ kinh nghiệm …

Bí mật của người kiên cường

Friedrich Nietzsche, nhà triết học người Đức đã nói: “Thứ gì không giết nổi ngươi, sẽ làm cho ngươi thêm mạnh mẽ.” Nhà tâm lý học Jonathan Haidt gọi đó là “giả thuyết nghịch cảnh”, …

10 quan niệm sai lầm về Ung thư cổ tử cung

Mặc dù hiện nay có rất nhiều phương pháp giúp phòng ngừa và tầm soát, nhưng ung thư cổ tử cung vẫn là một căn bệnh khá phổ biến ở phụ nữ. Hàng năm ung …

Ung thư vòm mũi họng - Vì sao hay phát hiện muộn?

Ung thư vòm mũi họng - Vì sao hay phát hiện muộn? Ở Việt Nam, Ung thư vòm mũi họng là bệnh khá phổ biến, chiếm tỷ lệ khoảng 10-12% tổng số các loại ung thư …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi