Khi nào thay khớp gối nhân tạo?

Con người là động vật đi, đứng, tạo dáng, chạy, nhảy trên đôi chân của mình. Khớp gối chuyển lực từ đùi xuống, tham gia việc di chuyển của cơ thể, đưa lực xuống cẳng chân. Khớp gối là khớp lớn nhất, phức tạp nhất trong cơ thể. Trong quá trình sinh hoạt, lao động, khớp gối là khớp chịu nhiều lực tải nhất nên dễ bị hư hại. Và phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo được chỉ định cho các khớp bị hư hại nặng và đau mà mọi giải pháp nội khoa đều thất bại.

 

Để trả lời câu hỏi “Khi nào thay khớp gối nhân tạo”, trước hết cần tìm hiểu cấu tạo và sinh cơ học của khớp gối.

Khớp gối là khớp lớn nhất, phức tạp nhất trong cơ thể và gồm 2 khớp: khớp chính là khớp chè-đùi giữa đầu dưới xương đùi và đầu trên xương chày (xương lớn của cẳng chân) và khớp chè-đùi giữa xương bánh chè và đầu dưới xương đùi. Đầu dưới xương đùi gồm 2 lồi cầu ở giữa là rãnh, lồi cầu trong to và thấp hơn lồi cầu ngoài. Mâm chày nghiêng về phía sau, tạo một góc 200 với mặt phẳng ngang, gồm mâm chày trong và ngoài.

Khớp gối giới hạn bởi:

1/ Hai đầu xương đùi và chày bao phủ bởi sụn khớp. Sụn khớp cấu tạo bởi 60% là mô sợi keo (collagen típ II) và 40% là các đại phân tử proteoglycan có cấu trúc như một thân cây nhiều cành, mỗi cành có nhiều nhánh nhỏ giống như dụng cụ chùi ống nghiệm. Các phân tử này phồng lên khi hút nhiều nước và teo đi khi nhả nước ra. Vì vậy, sụn khớp có tính chất căng và đàn hồi như trái banh quần vợt. Khi có lực tác động lên thì sụn bị biến hình đi nhưng không bị vỡ hoặc gãy và sẽ trở lại hình dạng ban đầu khi lực mất đi. Tính chất hấp thu lực mà không bị hư hại này tỷ lệ nghịch với mức độ tập hợp (trùng phân) thành đại phân tử của proteoglycan. Về già, mức độ trùng phân này lớn nên khả năng hấp thu lực kém, mô sụn dễ bị hư hại.

2/ Bao khớp: Bao bọc và nối 2 đầu xương ở bên ngoài sụn khớp. Bao khớp và sụn khớp đầu xương giới hạn thành một xoang gọi là ổ khớp. Bao khớp gồm 3 lớp:

  • Lớp ngoài cấu tạo bởi mô sợi giúp cho khớp được vững chắc;
  • Lớp giữa là mô liên kết lỏng lẻo có nhiều mao mạch, mạch máu nhỏ, mạch bạch huyết, thần kinh, các thụ cảm lực nén ép và mô mỡ;
  • Màng khớp lót bên trong ổ khớp, cấu tạo bởi các tế bào sản xuất proteoglycan dưới dạng axít hyaluronic tiết vào dịch khớp.

3/ Dịch khớp: Tạo nên bởi dịch thoát ra từ các mao mạch của lớp giữa bao khớp và các phân tử a-xít hyaluronic đóng vai trò chất bôi trơn. Dịch khớp chứa tất cả các chất điện tích trong huyết thanh nhưng không có tế bào và các phân tử lớn chất đạm.

Dịch khớp có 2 nhiệm vụ chính:

  • Nuôi dưỡng sụn khớp.
  • Giảm sự ma sát khi khớp cử động.

 

Khớp gối còn được giữ vững bởi các dây chằng ngoài khớp và dây chằng trong khớp:

  • Dây chằng ngoài khớp: phía trong có dây chằng bên xương chày và dây chằng xéo sau; phía ngoài có dây chằng bên xương mác và dây chằng khoeo xéo.
  • Dây chằng trong khớp: 2 dây chằng chéo trước và chéo sau trong ổ khớp.

 

Hai sụn chêm (trong và ngoài) gắn trên mâm chày như một miếng đệm giữ không cho 2 sụn khớp của xương đùi và xương chày chạm vào nhau.

 

Chức năng của khớp gối

Khớp có 2 chức năng là giúp cho cử động êm ái, không ma sát và hấp thu các lực do sức nặng đè lên mà không gây hư hại. Tác dụng bôi trơn của dịch khớp theo 2 cách:

  • Các phân tử axít hyaluronic bám trên bề mặt sụn khớp có tác dụng như những hòn bi lăn giúp làm trơn trong các cử động chậm và lực tải lớn. Tác dụng này tương tự như dầu nhớt đặc bôi trơn cho máy chạy dầu diesel.

  • Các phân tử nước tạo thành một lớp mỏng từ 5-10 μ (1μ = 1/1000 mm) giữa 2 mặt khớp, giúp làm trơn trong các cử động nhanh, có lực tải nhẹ. Bình thường nước từ dịch khớp được hút vào chứa trong sụn khớp. Khi sụn khớp chịu lực, nước bị ép ra “bơm” vào khe khớp; khi hết chịu lực, nước lại được hút trở lại vào trong mô sụn. Tác dụng này tương tự như của dầu loãng dùng để bôi trơn máy may.

 

Dịch khớp cung cấp các chất nuôi dưỡng cũng như rút đi các chất thải từ các tế bào sụn khớp nhờ hoạt động “bơm” do lực tải như đã mô tả ở trên. Hoạt động này bị giảm đi khi mức độ trùng phân của proteoglycan cao và mô sụn hóa can-xi nhiều như trong trường hợp ở người nhiều tuổi. Do đó càng về già, sụn khớp càng dễ bị hư hoại hơn.

 

Khớp gối được xem như 1 khớp phẳng, một dạng khớp bản lề với các cử động khá tự do, chủ yếu là gập và duỗi, gối duỗi thẳng 0º và gập khoảng 135º. Cử động khớp gối cực kỳ phức tạp. Khi gối gập duỗi, mâm chày vừa trượt vừa lăn trên 2 lồi cầu của đầu dưới xương đùi. Trong khi di chuyển, ngoài gập / duỗi trong mặt phẳng đứng dọc, khớp gối còn dang / áp trong mặt phẳng trán và xoay trong / xoay ngoài trong mặt phẳng ngang. Khi gối duỗi, các thành phần xương và phần mềm chuyển động theo kiểu vặn khóa, gài cứng giúp cho gối chịu đựng được các lực tác động từ mọi hướng.

Trong một chu kỳ đi, gối gập duỗi 70º trong thì hổng chân và 20º trong thì chống chân, dang-áp 10º và xoay ngoài 15º. Khi đi trên đường bằng phẳng, mặt khớp gối chịu 1 lực tải nén ép gấp 3 lần trọng lượng cơ thể. Lúc lên dốc hoặc cầu thang, mặt khớp gối chịu lực tải bằng 4-5 lần trọng lượng cơ thể. Các lực tải tác dụng không đồng đều trên mặt khớp chày, mâm chày trong chịu lực nhiều hơn mâm chày ngoài. Ngoài ra, gối còn chịu những lực căng và xé như khi lên dốc, khi đang chạy nhanh rồi dừng lại đột ngột kiểu đánh quần vợt của hảo thủ Nadal.

 

Ở khớp chè-đùi, lực tải lên cả 2 mặt khớp tăng theo độ gập gối. Đi lên dốc, lực tải sẽ nhiều hơn khi đi trên mặt phẳng. Độ tiếp xúc chè-đùi nhiều nhất lúc gối gấp 20-60º.

 

Trong quá trình sinh hoạt, lao động, khớp gối là khớp chịu nhiều lực tải nhất nên dễ bị hư hại. Ngoài ra, khớp gối còn là vị trí hay gặp của các chấn thương, bệnh lý như viêm nhiễm, ung bướu…

Khớp gối bị tổn thương và hư hại do 1 hoặc nhiều nguyên nhân sau:

  • Thoái hóa khớp: do lão hóa, cơ địa hoặc thứ phát sau một bệnh khác như viêm khớp, gãy xương, trật khớp…
  • Viêm khớp vô khuẩn: viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp thiếu niên, viêm cột sống dính khớp.
  • Viêm khớp nhiễm trùng: do vi khuẩn lao, vi khuẩn sinh mủ.
  • Hoại tử xương do thiếu máu tại chỗ: vô căn, do gãy hoặc trật khớp cũ, do bệnh thận, lạm dụng corticoide, bệnh người thợ lặn/ hầm mỏ.
  • Dị dạng bẩm sinh.
  • Bướu xương.

 

Chỉ định thay khớp gối có thể áp dụng cho các trường hợp kể trên nhưng mỗi loại bệnh lý lại có những tính chất phức tạp khác nhau. Ví dụ:

  • Cần phải có các khớp nhân tạo rất đặc biệt trong trường hợp phẫu thuật bảo tồn chi các ung thư xương vùng gối.
  • Chỉ cân nhắc việc thay khớp cho các trường hợp nhiễm trùng gối khi đã trị khỏi bệnh và nguy cơ bệnh bùng phát bệnh hầu như không có. Phẫu thuật hàn khớp gối là chọn lựa an toàn hơn, bệnh nhân phải đi cà nhắc nhưng không đau.
  • Trái với thay khớp nhân tạo thường được thực hiện cho viêm dính khớp háng thì cần suy nghĩ kỹ khi chỉ định thay khớp gối cho bệnh nhân bị viêm cột sống dính khớp. Rất may là khớp gối ít bị viêm dính trong bệnh lý này.
  • Thật khó để thực hiện các phẫu thuật thay khớp nhân tạo cho các trường hợp dị dạng bẩm sinh.

 

Như vậy, bệnh lý cần thay khớp gối nhân tạo chủ yếu là thoái hóa khớp và một số trường hợp viêm khớp dạng thấp (thường xảy ra ở các khớp bàn ngón hơn).

  • Ở bệnh nhân thoái hóa khớp, khớp gối bị hư là do lão hóa, cơ địa, di truyền và do lực tải kéo dài trên một phần hoặc toàn bộ sụn khớp. Đây là bệnh xương khớp hay gặp nhất (30-35%), là nguyên nhân chính gây đau, mất chức năng và giảm chất lượng sống ở người có tuổi.
  • Trường hợp khớp gối bị thoái hóa, các sụn khớp bị hư, mòn, tróc ra; xương dưới sụn bị hủy tạo thành những hốc nhỏ đồng thời tạo ra nhiều chồi xương phản ứng, các cấu trúc bên trong gối như sụn chêm, dây chằng cũng bị thoái hóa; khe khớp dần hẹp lại nhất là bên trong là nơi chịu lực nhiều hơn. Ở phụ nữ thường bị loãng xương (sau mãn kinh kèm tuổi già) nên xương bị cong, khiến gối thường biến dạng vẹo trong, càng làm đau đớn và khó đi đứng. Hình ảnh X-quang ghi nhận rõ các hình ảnh của bệnh và được phân độ nặng dần. Điều trị bệnh chủ yếu bằng nội khoa kết hợp với tập vận động kết hợp nghỉ ngơi. Phẫu thuật được đặt ra khi sự tàn phá xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra nhưng cần cân nhắc kỹ, tùy tình trạng bệnh và các điều kiện (cơ sở y tế, trình độ phẫu thuật viên và gây mê hồi sức, hoàn cảnh kinh tế-xã hội của bệnh nhân).

 

Phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo được chỉ định cho các khớp bị hư hại nặng và đau mà mọi giải pháp nội khoa đều thất bại. Yếu tố quan trọng nhất là Đau. Chỉ định mổ không dựa vào hình ảnh học y khoa (X-quang, CT, MRI) của bệnh. Sẽ không có chỉ định thay khớp nếu bệnh nhân đau ít hoặc không đau, chức năng khớp không bị ảnh hưởng nhiều dù trên X-quang thấy khớp bị hư hại nặng. Nếu 2 khớp gối cùng bị hư hại nặng thì bên đau sẽ được mổ trước, dù có khi tổn thương trên phim X-quang nhẹ hơn. Tuy nhiên, không nên nghĩ rằng thay khớp gối nhân tạo là biện pháp duy nhất cho khớp gối bị tổn thương và đau. Nếu bệnh nhân trẻ hơn 60 tuổi, thoái hóa khớp khu trú ở một ngăn thì cắt xương chỉnh trục cao mâm chày mang lại kết quả đáng khích lệ.

Như vậy, chỉ phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo khi:

  • Khớp gối bị hư hại nặng gây đau nhiều mà các phương pháp điều trị nội khoa không giải quyết được.
  • Phẫu thuật cắt xương – chỉnh trục xương chày được tiên đoán là kém hiệu quả.
  • Cơ sở y tế có đủ điều kiện để thực hiện phẫu thuật thay khớp.
  • Hoàn cảnh kinh tế-xã hội của bệnh nhân, thân nhân bảo đảm được cho phẫu thuật.

 

Loại phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo:

  • Thay khớp gối toàn phần (thay khớp đùi-chày +/- thay khớp chè-đùi): khi toàn bộ khớp bị hư hại nặng.
  • Thay khớp gối bán phần (hay 1 ngăn, thường là ngăn trong): chỉ thay bên (trong hoặc ngoài) của khớp gối bị hư nhiều.

 

Phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo (đúng chỉ định) giúp bệnh nhân đi lại được, sinh hoạt khá tốt, mang lại niềm vui cho người bệnh nhất là những người nhiều tuổi muốn có các hoạt động độc lập, không muốn dựa dẫm nhiều vào con cháu. Tuy nhiên, đây là loại phẫu thuật khó, thuộc loại kỹ thuật cao, nguy cơ biến chứng và di chứng không phải là không có. Hơn nữa một khớp nhân tạo dù “xịn” vẫn không bằng một khớp thật mà “dỏm”. Thế nên cả bệnh nhân và thầy thuốc phải rất thận trọng, cân nhắc khi đồng ý hoặc thực hiện một phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo.

 

Một điều quan trọng là làm sao để tránh dẫn đến thay khớp gối nhân tạo? Câu trả lời là ngoại trừ những yếu tố bất khả kháng (cơ địa, di truyền, tai nạn…) thì mỗi người phải làm sao cho khớp gối của mình được khỏe mạnh lâu dài bằng cách tập thể dục (chủ yếu là thể dục dưỡng sinh); chơi thể thao thích hợp, vừa sức; không để cho khớp gối chịu các lực tải lớn và kéo dài; phòng tránh té ngã, chấn thương; chế độ dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý; không để tăng cân… Vận động, như đã trình bày ở phần trên, giúp máu huyết lưu thông tốt, nuôi dưỡng các mô của hệ cơ-xương-khớp, giúp tạo ra chất nhờn để bôi trơn và nuôi dưỡng gân, sụn khớp và giúp tống đi các chất thải từ hoạt động tế bào, nhờ vậy làm chậm quá trình lão hóa.

Thầy thuốc Nhân dân

PGS. TS. BS Lê Chí Dũng

Nguyên Chủ tịch Hội CTCH,

Chủ tịch Hội Nội soi cơ xương khớp TP.HCM,

Chủ tịch Hội nội soi khớp – Y học Thể thao Đông Nam Á

Theo Tạp chí Sức Khỏe 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Các loại khớp trong phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo

Thoái hóa khớp cũng là một trong những bệnh lý thường gặp ở những người có tuổi, tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng như các bệnh lý nêu trên nhưng thoái hóa khớp …

Đau hệ cơ xương khớp và các sai lầm của cộng đồng

Với tỷ lệ mắc dao động từ khoảng 10 đến 40% dân số (tùy từng nghiên cứu), đau mạn tính ảnh hưởng tới khoảng 1,5 tỷ người trên toàn thế giới, đang là một vấn …

Giúp bệnh nhân nhi xương thủy tinh

Bài viết là câu chuyện xúc động của một Bác sĩ đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, sức lực cho việc đồng hành cùng những bệnh nhân nhi bị xương thủy tinh, tìm ra …

Khổ vì … Cái chân nhúc nhích trong đêm

Rất nhiều bệnh nhân có chung một triệu chứng là khi chiều về tối, nhất là khi nằm yên hay để chân nghỉ ngơi sau một ngày làm việc, thì họ lại có cảm giác …

Nguy hiểm khi gãy xương vùng khớp háng ở người cao tuổi

Gãy xương vùng khớp háng có thể xảy ở mọi lứa tuổi nhưng gặp nhiều nhất ở người lớn tuổi từ các chấn thương rất nhẹ. Đây là một chấn thương gây ra hậu quả …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi