Hiểu đúng về Helicobacter pylori Chiến tranh hay chung sống hoà bình?

Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới ước chừng hơn 50% dân số toàn cầu bị nhiễm H. pylori. Khoảng một phần ba dân số người lớn Bắc Âu và Bắc Mỹ nhiễm H. pylori; tỷ lệ nhiễm H. pylori ở Đông Âu, Nam Phi và Châu Á trên 50%. Việt Nam, tỷ lệ nhiễm H. pylori chung ở cộng đồng dân cư là 74,6%. Vi khuẩn HP dễ lây truyền từ người này sang người khác do thói quen ăn uống, sinh hoạt. Hơn thế, nguy cơ của một đứa trẻ bị nhiễm H. pylori lớn hơn khoảng 8 lần nếu người mẹ bị nhiễm và lớn hơn khoảng 4 lần nếu người cha bị nhiễm. Đặc biệt chính vì chưa hiểu đúng về vi khuẩn HP, nên có 2 thái cực ở bệnh nhân: hoặc chủ quan, xem thường, hoặc lo lắng thái quá. Đó cung là lý do Tạp chí Sức khỏe thực hiện chuyên đề về vi khuẩn HP: Hiểu đúng về Helicobacter pylori – Chiến tranh hay chung sống hoà bình?

Nhận diện vi khuẩn Helicobacter pylori

Vi khuẩn HP được tìm ra như thế nào?

Năm 1982, Robin Warren và Barry Marshall đã phân lập được chủng vi khuẩn mới từ mẫu sinh thiết dạ dày của một bệnh nhân loét hành tá tràng và đặt tên là Campylobacter pylori. Năm 1983, Warren và Marshall đã nuôi cấy thành công chủng vi khuẩn này. Về phân loại theo hệ thống vi khuẩn học, có ít nhất 9 loại Helicobacter được phát hiện, tuy nhiên chỉ có Helicobacter pylori (H. pylori) là thủ phạm chính trong các bệnh dạ dày tá tràng. Năm 2005, Robin Warren và Barry Marshall đã được nhận giải thưởng Nobel về Y học. Đây là một giải thưởng danh giá nhất để ghi nhận công lao vĩ đại của 2 nhà khoa học này.

Nhận diện vi khuẩn HP

Vi khuẩn H. pylori là trực khuẩn gram âm có hình xoắn. Dưới kính hiển vi điện tử, vi khuẩn có kích thước dài 2-4 µm, đường kính 0,5-1 µm, với 2-6 tiêm mao ở một đầu. Hình dạng xoắn và các tiêm mao giúp cho vi khuẩn di chuyển trong lớp nhầy. Vi khuẩn sống ở lớp nhầy trên bề mặt niêm mạc dạ dày, một số ít bám trên bề mặt niêm mạc. Các tiêm mao giúp H. pylori di chuyển xuyên qua lớp nhầy đến bề mặt niêm mạc, nơi có pH trung tính để sinh sống và xâm nhập vào tế bào biểu mô vật chủ để gây bệnh. Tuy nhiên, hơn 80% những người bị nhiễm vi khuẩn không có triệu chứng và điều đó đã được mặc nhiên công nhận rằng HP có thể đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái dạ dày tự nhiên.

 

Con đường lây nhiễm H. pylori và gây bệnh lý dạ dày tá tràng

H.pylori lây truyền từ người sang người thông qua các đường: miệng – miệng, phân – miệng. Lây truyền từ nguồn nước là do nước bị nhiễm H. pylori. Thói quen ăn uống, sinh hoạt hằng ngày trong gia đình, trẻ dễ bị nhiễm khuẩn H. pylori từ người mẹ thông qua đường nếm, mớm, bón thức ăn cho con.

Lây truyền của H. pylori chủ yếu xảy ra trong gia đình. Nguy cơ tương đối của một đứa trẻ bị nhiễm H. pylori lớn hơn khoảng 8 lần nếu người mẹ bị nhiễm và lớn hơn khoảng 4 lần nếu người cha bị nhiễm. Một số nghiên cứu đã chứng minh sự lây truyền từ mẹ sang con. Số thành viên trong gia đình càng nhiều càng dễ lây bệnh.

Nhiễm H. pylori thường mắc phải từ nhỏ và giai đoạn cấp hiếm khi được chẩn đoán, sau đó, hầu hết bệnh nhân sẽ chuyển thành viêm dạ dày mạn, trong số đó 90% trường hợp có thể không có triệu chứng.

Diễn biến lâm sàng của nhiễm H. pylori còn tùy vào độc lực vi khuẩn và vật chủ. Bệnh nhân có tăng tiết axit thường viêm hang vị là chủ yếu và dễ bị loét hành tá tràng, dễ bị loét dạ dày, teo dạ dày, dị sản ruột, loạn sản và cuối cùng là ung thư dạ dày.

Nếu không được điều trị tiệt trừ, 100% bệnh nhân nhiễm H. pylori giai đoạn cấp sẽ chuyển thành viêm mạn, trong đó 20% viêm mạn hang vị diễn tiến đến loét tá tràng, 10% viêm dạ dày thân vị hoặc viêm teo đa ổ chuyển thành loét dạ dày và 3% sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.

 

Tại sao phải điều trị H. pylori?

Nhiều bệnh lý dạ dày có liên quan với nhiễm H. pylori và việc tiệt trừ nhiễm khuẩn này đã được chứng minh là có lợi. Các nghiên cứu cho thấy, việc tiệt trừ nhiễm H. pylori đem lại những lợi ích so với không điều trị, về mặt lành vết loét dạ dày tá tràng và đề phòng tái phát. Tiệt trừ nhiễm H. pylori cũng giúp đề phòng xuất huyết do loét dạ dày và ung thư dạ dày. Những nghiên cứu cũng cho thấy rằng tiệt trừ H. pylori làm lui bệnh lâu dài ở bệnh nhân lymphoma mức độ thấp, tiệt trừ H. pylori đem lại lợi ích có ý nghĩa ở bệnh nhân khó tiêu chưa được thăm dò và không có các triệu chứng báo động.

 

Xét nghiệm xác định nhiễm H. pylori

Có 2 cách: 

  1. Xét nghiệm có xâm lấn (nội soi dạ dày)
  • Xét nghiệm mô bệnh học.
  • Xét nghiệm urease nhanh (CLOtest).
  • Nuôi cấy.
  • Phương pháp khuếch đại gen.
  1. Xét nghiệm không có xâm lấn (không nội soi dạ dày)
  • Huyết thanh chẩn đoán (ELISA).
  • Phát hiện kháng nguyên trong phân.

     • Test hơi thở bằng carbon đánh dấu (UBT): 13C hoặc 14C.

Trên thực hành lâm sàng thường sử dụng hai xét nghiệm đó là: Xét nghiệm urease nhanh (CLOtest); Test hơi thở bằng carbon đánh dấu (UBT): 13C hoặc 14C.

 

Khi nào điều trị

Theo đồng thuận điều trị H. pylori của Hội Tiêu hoá Việt Nam 2013, cũng như các hướng dẫn điều trị H. pylori trên thế giới. Điều trị H. pylori khi có một trong những dấu chứng sau:

  • Rối loạn tiêu hóa.
  • Tiền sử loét dạ dày tá tràng.
  • Viêm loét dạ dày tá tràng trên nội soi.
  • Cha, mẹ, anh, chị, em bị ung thư dạ dày.
  • Điều trị NSAID hay aspirin kéo dài.
  • Thiếu máu thiếu sắt chưa rõ nguyên nhân.
  • Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn.
  • Bệnh nhân mong muốn điều trị.

Những người thân có quan hệ huyết thống trực tiếp của người bệnh bị ung thư dạ dày là những người có cùng đặc điểm di truyền, do đó dễ bị tổn thương và có nguy cơ dễ bị loét dạ dày – tá tràng và ung thư dạ dày hơn khi bị nhiễm H. pylori. Do đó những người thân này, dù không hề có triệu chứng, cũng nên được làm xét nghiệm chẩn đoán H. pylori và điều trị tiệt trừ nhằm ngăn ngừa những bệnh lý này trong tương lai.

Điều trị tiệt trừ H. pylori phổ biến nhất hiện nay là phác đồ 3 thuốc. Tuy nhiên, hiệu quả của phác đồ này ngày càng giảm chỉ đạt hiệu quả dưới 50%.

 

Tại sao liệu pháp tiệt trừ bị thất bại

Hai yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị là vi khuẩn H. pylori đề kháng với kháng sinh và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân.

Tình hình đề kháng kháng sinh của H. pylori ngày càng gia tăng trên toàn thế giới, đặc biệt là clarithromycin, một kháng sinh chủ lực trong điều trị tiệt trừ H. pylori. Ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, trong nước cũng đã có một số nghiên cứu về tình hình H. pylori đề kháng kháng sinh như clarithromycin, metronidazole, levofloxacin đều trên 20%.

Hiện nay, chọn lựa công thức điều trị phụ thuộc bệnh nhân ở vùng có tỷ lệ H. pylori đề kháng kháng sinh clarithromycin, metronidazole cao hay thấp. Nếu ở vùng có tỷ lệ đề kháng kháng sinh thấp nhỏ hơn 15% thì chọn lựa công thức 3 thuốc (công thức chuẩn 3 thuốc), nếu vùng có tỷ lệ đề kháng kháng sinh cao chỉ định điều trị công thức 4 thuốc có bismuth hay không có bismuth. Nếu điều trị không thành công thì tiếp tục công thức thứ 2 (công thức cứu vãn), nếu không thành công thì cần phải thực hiện nuôi cấy H. pylori kháng sinh đồ và điều trị theo từng cá thể. Sự thành công trong điều trị tiệt trừ H. pylori không chỉ chọn đúng phác đồ mà đòi hỏi người bệnh cần tuân thủ điều trị theo đúng chỉ định, liều thuốc, cách sử dụng và đủ thời gian.

 

Phòng ngừa lây nhiễm H. pylori

Để phòng ngừa nhiễm khuẩn H. pylori hiệu quả chúng ta cần chủ động ngăn chặn những con đường lây nhiễm chính của vi khuẩn H. pylori, như: thay đổi lối sống như bỏ thói quen dùng chung dụng cụ ăn uống như chung chén nước chấm hoặc gắp thức ăn cho nhau. Tránh thói quen mớm cơm cho trẻ nhỏ. Rửa tay trước bữa ăn.

TS. BS Võ Hồng Minh Công

Trưởng khoa Nội tiêu hóa – BV Nhân dân Gia Định

Theo Tạp chí Sức Khỏe – khoe24h.vn

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Nhiễm vi khuẩn H.Pylori – Khi nào cần điều trị?

Hiện nay, tỉ lệ nhiễm HP trên thế giới khoảng 50%, trong khi Việt Nam là vùng có tỉ lệ nhiễm còn khá cao 70% do tập quán và điều kiện vệ sinh ăn uống. …

Những dấu hiệu nhận biết bạn đã nhiễm vi khuẩn HP

Những dấu hiệu nhận biết bạn đã nhiễm vi khuẩn HP (Sức Khỏe - khoe24h) Helicobacter pylori (thường gọi tắt là HP hay vi khuẩn HP) là loại vi khuẩn có thể cư trú ở dạ …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi