Hậu COVID & những ảnh hưởng đến thần kinh, giấc ngủ

Hậu COVID & những ảnh hưởng đến thần kinh, giấc ngủ

Đại dịch COVID-19 là dịch bệnh gây tử vong nhiều nhất kể từ dịch Cúm Tây Ban Nha năm 1918. Không chỉ vậy, một số bệnh nhân dù hồi phục vẫn phải chịu đựng những biến chứng, di chứng kéo dài. Ngày càng có nhiều những báo cáo về các di chứng hậu COVID-19, trong đó các di chứng thần kinh có tần suất chỉ đứng sau hệ hô hấp.

Điều này có thể được lý giải thông qua 2 cơ chế chính.

Một là sự tấn công trực tiếp của virus từ mũi lên vùng não lân cận thông qua thần kinh khứu giác và các cấu trúc lân cận. Hai là những tổn thương vi thể của nhu mô não, vốn khá mong manh, nhạy cảm so với các cơ quan khác trong cơ thể chúng ta. Những tổn thương này có thể là hậu quả trực tiếp của các phản ứng miễn dịch, cũng có thể gián tiếp từ sự tổn thương các mao mạch, tắc mạch máu nhỏ hoặc từ sự thiếu oxy não do suy hô hấp.

Các triệu chứng thần kinh trong giai đoạn nhiễm COVID-19 sớm rất đa dạng, phổ biến nhất là mất khứu giác, vị giác, đau đầu, yếu cơ, rối loạn giấc ngủ… Phần lớn các triệu chứng này sẽ giảm dần và hết hẳn sau khi khỏi bệnh một thời gian. Tuy nhiên một số bất thường có thể kéo dài, thậm chí xuất hiện mới (trước đó không có) trong giai đoạn hậu COVID, nhiều tháng sau khi bệnh nhân đã âm tính. Các bất thường này bao gồm các rối loạn về thần kinh thực vật, rối loạn giấc ngủ, suy giảm trí nhớ nhẹ, kém tập trung, lo âu và trầm cảm.

Cảm giác bất an trong đại dịch, lo nghĩ cho bản thân và gia đình, mất mát người thân, thiệt hại về kinh tế, đổ vỡ các dự định cuộc sống…; tất cả những điều này ít nhiều tác động đến sức khỏe tâm thần, tâm lý của mọi người, kể cả những người vững vàng nhất. Nhiều người sẽ cảm thấy trằn trọc, khó đi vào giấc ngủ, hoặc thức giấc sớm không thể ngủ tiếp được, hoặc giấc ngủ nông, dễ bị thức giấc, mộng mị nhiều. Dù vậy, không cần phải quá lo lắng bởi phần lớn bệnh nhân sẽ hồi phục dần theo thời gian, khi mọi người dần ổn định tinh thần, lấy lại nhịp sống mới. Một số khác có thể kém may mắn hơn và sẽ phải cần có sự chăm sóc y tế chuyên nghiệp.

Không chỉ do yếu tố ngoại cảnh mà cả những tổn thương thực thể trong não cũng có thể đưa đến những rối loạn tâm thần và rối loạn giấc ngủ. Bệnh nhân có thể có những rối loạn về điều hòa giấc ngủ, về điều hòa hoạt động hô hấp trong giấc ngủ, biểu hiện bằng những cơn ngưng thở ngắn trong đêm. Những người đã có sẵn các yếu tố nguy cơ của ngưng thở khi ngủ như béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, tai biến mạch máu não cũ… sẽ có nguy cơ cao hơn nếu nhiễm COVID-19. Tình trạng xơ phổi cũng là một yếu tố góp phần làm bệnh nhân bị mất ngủ do sự suy giảm độ bảo hòa Oxy trong máu (SpO2) ban đêm, đặc biệt nguy hiểm nếu đi kèm với ngưng thở khi ngủ.

Hậu COVID & những ảnh hưởng đến thần kinh, giấc ngủ

Các trường hợp có biểu hiện bệnh nặng, kéo dài đương nhiên có nguy cơ di chứng hậu COVID nhiều hơn. Tuy nhiên, ngoài tác động trực tiếp, COVID-19 còn gây hại đến cơ thể một cách gián tiếp qua các phản ứng miễn dịch quá mức. Điều này lý giải sự tiến triển, thậm chí là xuất hiện mới của một số triệu chứng thực thể ở giai đoạn hậu COVID trên những ca vốn chỉ bệnh nhẹ lúc ban đầu. 

Do chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp so với căn nguyên tâm lý, lo âu đơn thuần nên các bệnh nhân COVID cũng không cần phải quá lo lắng đến các tổn thương thần kinh hậu COVID. Bệnh nhân không cần khám tầm soát nếu không có triệu chứng gì hoặc nếu chỉ có một số di chứng thần kinh nhẹ. Tuy vậy nếu các vấn đề trên không có xu hướng giảm dần hoặc thậm chí có biểu hiện phức tạp hơn thì bệnh nhân nên khám chuyên khoa thần kinh. Sau khi thăm khám, nếu nghi ngờ, bác sĩ sẽ hướng dẫn người nhà theo dõi SpO2, hoặc lý tưởng nhất là đo đa ký đồ giấc ngủ nhằm đánh giá chất lượng giấc ngủ, mức độ ngưng thở cũng như sự sụt giảm SpO2 trong lúc ngủ để có chẩn đoán xác định và chỉ định điều trị phù hợp.

Trong giai đoạn hậu COVID, việc sử dụng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh: CT scan, MRI não để chẩn đoán rối loạn giấc ngủ là không có ích vì không thể quan sát thấy những tổn thương vi thể vốn có kích thước quá nhỏ. Chỉ trong một số rất ít trường hợp, các bác sĩ lâm sàng có thể chỉ định các kỹ thuật này để kiểm chứng một số bệnh lý cụ thể khác. 

Như trong mọi trường hợp rối loạn giấc ngủ, việc nghỉ ngơi thư giãn, đảm bảo vệ sinh giấc ngủ là những biện pháp cơ bản để giúp bệnh nhân có được một giấc ngủ tốt, sâu giấc. Đôi khi các bác sĩ chuyên khoa có thể chỉ định thuốc chống trầm cảm, lo âu cho bệnh nhân sử dụng. Các thuốc có tác dụng gây ngủ mạnh cần được cân nhắc kỹ lưỡng, hạn chế chỉ định cho các bệnh nhân COVID-19. Việc sử dụng thuốc ngủ không đúng chỉ định có thể gây suy hô hấp hoặc làm trầm trọng hơn tình trạng ngưng thở khi ngủ và gia tăng nguy cơ đột tử của bệnh nhân.

Nói tóm lại, bệnh nhân hậu COVID-19 chỉ cần tập thể dục, tập thở, dinh dưỡng đầy đủ để cơ thể dần hồi phục sau thời gian đau bệnh. Nên tránh tâm lý lo sợ “hậu COVID” để không bị ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý, giấc ngủ của bản thân. Ngược lại, cần khám chuyên khoa nếu bị thức giấc nhiều lần giữa đêm kèm cảm giác ngộp thở, thở dốc hoặc thường ngủ không sâu giấc kèm cảm giác nặng đầu, chóng mặt vào hôm sau.

BS Trần Đức Sĩ

Phó Chủ tịch Chi hội Mất Ngủ Việt Nam

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Bệnh viện FV đạt chứng nhận Con dấu vàng chất lượng JCI lần 3 liên tiếp

Bệnh viện FV vừa xuất sắc đạt được chứng nhận Con dấu vàng chất lượng JCI lần thứ 3 liên tiếp, sau lần đầu tiên vào năm 2016 và tái đạt lần 1 vào năm …

Ladophar – 40 năm với sứ mệnh mang tinh hoa dược liệu đến cho cộng đồng

Hôm nay, ngày 06/05/2022, Công ty Cổ phần Dược Lâm Đồng (Ladophar) tổ chức kỷ niệm 40 năm thành lập, ghi dấu một chặng đường xây dựng và phát triển của doanh nghiệp này. Cũng …

Ladophar tổ chức Đại hội cổ đông thường niên 2022 tại Thành phố Đà Lạt

Hôm nay, ngày 06 tháng 05, Công ty Cổ phần Dược Lâm Đồng (Ladophar) đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2022 tại Terracotta Hotel & Resort (Thành phố Đà …

10 điều nên biết trước khi điều trị với filler

Filler (chất làm đầy) từ lâu đã được sử dụng nhằm giúp tái tạo đường nét và hạn chế các dấu hiệu tuổi tác như nếp nhăn, rãnh nhăn, vùng mặt giữa chảy xệ. Việc …

Ứng dụng phẫu thuật nội soi trong điều trị ung thư đại tràng trái có biến chứng tắc ruột

Trong điều trị ung thư đại trực tràng, phẫu thuật nội soi từ lâu đã tỏ ra có nhiều ưu điểm và được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên đối với ung thư đại tràng …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi