Đột quỵ: Kẻ giết người số một

TS.BS Trần Chí Cường – Giám đốc Chuyên môn

Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế S.I.S Cần Thơ

Nội Dung

  1. Bệnh đột quỵ là gì?
  2. Tình hình bệnh đột quỵ hiện nay?
  3. Các yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến đột quỵ?
  4. Làm thế nào để biết một người bị đột quỵ?
  5. Hậu quả đột quỵ ra sao?
  6. Khi xảy ra đột quỵ cần phải làm gì?
  7. Thời gian vàng trong cấp cứu đột quỵ?
  8. Các phương pháp điều trị đột quỵ hiện nay
  9. Các biện pháp phòng ngừa đột quỵ
  10. Cần chăm sóc bệnh nhân sau đột quỵ như thế nào?

Đột quỵ là gì?

Đột quỵ là sự cố đột ngột nguy hiểm của hệ tuần hoàn, làm ngừng cung cấp oxy và dưỡng chất cho tế bào não.  

Đột quỵ được phân thành 2 loại chính:

  • Đột quỵ thiếu máu não do tắc mạch máu não (Nhồi máu não): Chiếm khoảng 80%.
  • Đột quỵ chảy máu não do vỡ mạch máu não (Xuất huyết não): Chiếm khoảng 20%.

 

 

Đột quỵ nhồi máu não: Là do tắc nghẽn mạch máu. Có nhiều nguyên nhân gây ra hẹp động mạch cấp máu cho não như hẹp động mạch cảnh ở vùng trước cổ, hẹp các động mạch đốt sống phía sau cổ, hẹp các động mạch trong sọ; Cục máu đông do bị bệnh rối loạn nhịp tim (rung nhĩ..), bệnh van tim, đa hồng cầu…; Bong tróc các mãng xơ vữa động mạch… gây tắc nghẽn một phần hay hoàn toàn lòng mạch máu dẫn đến việc cung cấp oxy và dưỡng chất cho tế bào não bị ngưng trệ khi tế bào não ngưng hoạt động sẽ dẫn đến đột quỵ (mặt méo, yếu liệt tay chân, nói khó, hôn mê…).

Đột quỵ xuất huyết não: Là do vỡ mạch máu. Có nhiều nguyên nhân gây vỡ mạch máu: phổ biến nhất là do bệnh tăng huyết áp, các nguyên nhân khác hay gặp ở người trẻ là vỡ dị dạng mạch máu não, vỡ túi phình mạch máu não, vỡ các thông động tĩnh mạch trong sọ…  Các bệnh gây rối loạn đông máu, liên quan đến dùng thuốc chống đông… Khi mạch máu bị vỡ ra, máu sẽ thoát ra ngoài lòng mạch tạo nên cục máu bầm (khối máu tụ) xung quanh nơi bị vỡ gây chèn ép các vùng não lành kế bên làm mất chức năng tế bào não dẫn đến đột quỵ (đột ngột đau đầu dữ dội, nôn ói, hôn mê, cổ cứng…).

Dù xảy ra đột quỵ nhồi máu não hay đột quỵ xuất huyết não, điều cần làm chính là nhanh chóng đưa người bệnh đến cơ sở y tế có chuyên khoa cấp cứu đột quỵ càng sớm càng tốt trong “thời gian vàng” giúp người bệnh được cấp cứu nhanh nhất: tái thông mạch máu não bị tắc hay điều trị cầm máu, giảm tối đa những tai biến – biến chứng hậu quả của bệnh đột quỵ.

2. Tình hình bệnh đột quỵ hiện nay

Nếu như cách đây vài năm, đột quỵ là nguyên nhân thứ 3 dẫn đến tử vong trên toàn thế giới, chỉ sau tim mạch và ung thư, thì hiện nay đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế hàng đầu.  Mỗi năm trên thế giới có khoảng 15 triệu bệnh nhân đột quỵ, mỗi 45 giây có 1 trường hợp mắc mới, mỗi 3 phút có 1 bệnh nhân đột quỵ tử vong. Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 200.000 trường hợp đột quỵ, riêng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có từ 15.000 – 20.000 ca.

Ghi nhận thực tế, trong 6 tháng đầu năm 2021, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế S.I.S Cần Thơ đã cấp cứu cho 1879 bệnh nhân đột quỵ, trong số này có đến 76% trường hợp cấp cứu đột quỵ do nhồi máu não. Nếu năm 2020 thời gian vàng đạt 23%, thì trong 6 tháng đầu năm 2021 tỷ lệ này chỉ đạt 19%, điều này có thể lý giải được bởi ảnh hưởng dịch COVID 19 diễn biến phức tạp một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội, hạn chế đi lại vì vậy việc di chuyển của bệnh nhân gặp không ít khó khăn khiến cấp cứu trong thời gian vàng cũng chậm hơn.

Khác với những bệnh lý khác, đột quy thường xảy ra bất ngờ, không báo trước, thường là trên người đang khỏe mạnh, đang sinh hoạt, làm việc trong cộng đồng và không loại trừ bất cứ ai. Và số bệnh nhân bị đột quỵ hàng năm luôn gia tăng cho thấy nhu cầu chẩn đoán và điều trị bệnh đột quỵ là rất lớn. Bên cạnh đó, các bệnh mạch máu não khác như dị dạng mạch máu não bẩm sinh, phình mạch máu não… cũng chiếm con số không nhỏ trong dân số, đây là nguy cơ tìm ẩn khó đoán gây đột quỵ ở người trẻ và trẻ em.

Chỉ số nguy cơ mắc bệnh đột quỵ trong cộng đồng trung bình khoảng 20% dân số, nếu theo dõi suốt đời 100 người trong cộng đồng sẽ có khoảng 20 người mắc bệnh đột quỵ hoặc tử vong do đột quỵ.

3. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ là gì?

Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, điều chỉnh được

  • Tăng huyết áp là nguy cơ hàng đầu dẫn đến Đột quỵ

Huyết áp cao là nguyên nhân hàng đầu gây ra các bệnh về mạch máu. Huyết áp cao làm gia tăng áp lực lên thành mạch máu dẫn đến tình trạng xơ vữa mạch máu, những mảng xơ vữa này lâu ngày sẽ góp phần hình thành nên huyết khối (cục máu đông) đi khắp các mạch máu trong cơ thể. Nếu cục máu đông này trôi lên não, dẫn đến tắc mạch máu não gây ra đột quỵ nhồi máu não. Tăng huyết áp làm gia tăng áp lực lên thành mạch, khi gia tăng quá mức, thành mạch có thể bị vỡ, gây ra đột quỵ xuất huyết não. Theo ghi nhận, có đến 90% trường hợp đột quỵ xuất huyết não có liên quan đến tăng huyết áp.

  • Các bệnh liên quan đến tim mạch là nguy cơ thứ hai dẫn đến đột quỵ

Khi mắc các bệnh lý tim mạch như rối loạn nhịp tim, bệnh động mạch vành, rung nhĩ… Các bệnh lý này dẫn đến tình trạng co bóp bất thường của tim, lâu ngày chúng dễ hình thành các cục máu đông trong buồng tim. Khi cục máu đông thoát ra khỏi buồng tim, chúng có thể di chuyển đến nhiều nơi khác trong cơ thể, nếu đi đến não sẽ dẫn tắc nghẽn mạch máu não, gây đột quỵ nhồi máu não.

Các nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý tim mạch

Đái tháo đường là nguy cơ thứ ba dẫn đến đột quỵ

Đái tháo đường là một bệnh mạn tính, không lây nhiễm cho người khác, đôi khi có yếu tố gia đình, thường diễn tiến âm thầm và dễ dẫn đến tổn thương các cơ quan như tim, não, mắt, thận…

Hiện tượng tăng đường huyết làm quá trình xơ vữa mạch máu diễn ra nhanh hơn người bình thường, hình thành cục máu đông trong lòng động mạch hay mảng xơ vữa lây bít tắc lòng mạch, cản trở lượng máu giàu oxy đến nuôi não. Mảng xơ vữa này không chỉ gây tổn thương não, khi xuất hiện ở tim gây nhồi máu cơ tim, cơn đau thắt ngực.

Người bị đái tháo đường có nguy cơ đột quỵ cao hơn từ 2- 4 lần so với người bình thường.

  • Mỡ máu cao (Cholesterol cao)

Mỡ máu cao có thể phá hủy các “lớp áo” trong của mạch máu, gây ra mảng xơ cứng bám vào các mạch máu, cản trở việc lưu thông, cung cấp máu lên não. Thời gian dài sẽ gây ra tình trạng hẹp hoặc tắc nghẽn mạch máu, dẫn đến nhồi máu não. Mỡ máu là thành phần không thể thiếu của cơ thể, vì thế chúng ta không thể loại bỏ mỡ máu mà có thể kiểm soát nó ở mức bình thường, để giảm nguy cơ dẫn đến các bệnh lý liên quan khác, trong đó có đột quỵ.

  • Uống nhiều bia rượu

Một loạt các tác hại phải kể đến khi lạm dụng rượu bia là tác động xấu đến huyết áp, gây ra các bệnh lý về thần kinh, tim mạch, xơ gan, ung thư gan … Đặc biệt, người thường xuyên sử dụng rượu bia có nguy cơ mắc đột quỵ cao hơn so với người không sử dụng rượu bia. Bởi bia rượu tác động xấu lên hệ tim mạch, tim người uống rượu bia quá nhiều có thể bị dãn nở to hơn tim người bình thường, song kém chức năng (bệnh cơ tim dãn nở), khả năng bơm máu kém dễ gây ra đột quỵ.

  • Hút thuốc lá là yếu tố làm tăng nguy cơ đột quỵ và các bệnh lý xơ vữa mạch máu

Ngoài nguy cơ ung thư phổi- bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) đã được biết đến từ lâu; Người thường xuyên hút thuốc lá sẽ gây viêm trong mạch máu, làm tăng nhanh quá trình xơ vữa mạch máu, dễ hình thành cục máu đông. Mảng xơ vữa này khiến lòng mạch máu ngày càng hẹp lại hoặc bít tắc hoàn toàn, từ đó dòng máu không thể cung cấp oxy và dưỡng chất đến các cơ quan. Theo nghiên cứu, người hút thuốc lá có nguy cơ mắc đột quỵ gấp 3 lần so với người bình thường, ngoài ra thuốc lá còn làm gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, nhồi máu thận hoặc tắc cấp tính các mạch chi dưới thậm chí phải cắt cụt chi nếu không kịp thời xử lý.

  • Người thường xuyên căng thẳng stress:

Khi áp lực công việc cùng với chế độ sinh hoạt thiếu lành mạnh như thức khuya mất ngủ kéo dài, ăn uống không điều độ… dễ gây ra tình trạng như đau đầu, căng thẳng, stress… Khi căng thẳng quá mức sẽ làm tăng huyết áp, tăng đường huyết, nếu trong thời gian dài sẽ làm gia tăng nguy cơ đột quỵ ở mọi người, đặc biệt là ở người trẻ tuổi.

Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi

  • Tuổi tác

Tuổi tác càng lớn làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tật. Ghi nhận ở người cao tuổi và trung niên nhất là từ 60 tuổi trở lên thường dễ mắc phải đột quỵ. Tuy nhiên, hiện nay đột quỵ đang dần trẻ hóa bằng chứng là có những trường hợp đột quỵ ở độ tuổi dưới 40 đang có xu hướng gia tăng. Đột quỵ ở độ tuổi càng lớn nguy cơ tử vong càng cao.  

  • Giới tính

Nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn nữ giới khoảng 1,25 lần. Tuy nam giới có nguy cơ đột quỵ cao hơn nhưng tỷ lệ tử vong do đột quỵ ở nam giới lại thấp hơn nữ giới. Tỷ lệ được cứu sống ở nam giới khi bị đột quỵ cao hơn nữ giới vì nam giới đột quỵ có độ tuổi trung bình thấp hơn so với nữ giới.

  • Có tiền căn gia đình

Người có người thân trong gia đình từng bị đột quỵ (Ông Bà, Cha Mẹ ruột…) sẽ có nguy cơ bị đột quỵ cao hơn do ảnh hưởng thói quen sống hoặc yếu tố di truyền.

  • Người đã từng bị đột quỵ

Người đã từng bị đột quỵ thì khả năng tái phát đột quỵ của họ cao gấp 7 lần người thường. Theo ước tính, có 40% trường hợp đột quỵ sẽ tái phát trong 5 năm đầu tiên. Đột quỵ quay lại sớm hay muộn phụ thuộc vào việc tìm nguyên nhân gây đột quỵ và  người bệnh kiểm soát được các yếu tố nguy cơ và tuân thủ điều trị tốt hay không.

4. Làm thế nào để biết một người bị đột quỵ?

Tuy đột quỵ xảy đến rất nhanh và bất ngờ nhưng chúng ta hoàn toàn có thể nhận biết được bệnh và chủ động phòng ngừa theo dấu hiệu F.A.S.T như sau:

  •       F= Face= KHUÔN MẶT: Đột ngột bị thay đổi như miệng méo lệch sang một bên, liệt mặt (Hãy bảo người đó cười và quan sát nét mặt).
  •       A= Arms= TAY/CHÂN: Đột ngột bị tê yếu chân tay hoặc liệt chân tay (Hãy bảo người đó giơ 2 tay/chân lên và so sánh 2 bên tay/chân).
  •       S= Speech= GIỌNG NÓI: Đột ngột bị nói khó, nói ú ớ không rõ lời (Hãy bảo người đó nói một vài từ và lắng nghe).
  •       T=Time= THỜI GIAN: Khi phát hiện một người có 3 dấu hiệu trên, cần chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất có đủ điều kiện cấp cứu đột quỵ hoặc gọi ngay đến cấp cứu 1800.1115 để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Xuất hiện Cơn thiếu máu não thoáng qua

Các triệu chứng của cơn thiếu máu não thoáng qua được xem là triệu chứng báo sớm của đột quỵ, tuy nhiên do chưa có kiến thức đúng về đột quỵ, nên phần lớn các dấu hiệu này đều bị người bệnh bỏ qua. Các triệu chứng của cơn thiếu máu não thoáng qua như sau:

  • Đột ngột xây xẩm chóng mặt, choáng váng, mờ mắt thoáng qua.
  • Đột ngột cảm thấy buồn nôn, mệt mỏi, bị ngất xỉu.
  • Đột ngột cảm thấy tức ngực, khó thở và tim đập nhanh hơn bình thường.
  • Đột ngột có cơn tê yếu nửa người thoáng qua, không cầm nắm được đồ đạc…
  • Đột ngột khó nói, đớ lưỡi, méo miệng.

Hầu hết các triệu chứng này chỉ xuất hiện trong thời gian ngắn (trong vài giây, vài phút hoặc chỉ trong 24 giờ) và sớm hồi phục lại, điều này khiến người bệnh chủ quan và bỏ qua chúng vì nghĩ rằng chúng không nguy hiểm. Tuy nhiên, theo Hội đột quỵ Hoa kỳ: “Nếu có cơn thiếu máu não thoáng qua, nguy cơ đột quỵ cho bệnh nhân có thể lên đến 20% trong 90 ngày tiếp theo”.

Đây là dấu hiệu báo trước, do đó khi có dấu hiệu trên, cần đến thăm khám và tham khảo ý kiến của các bác sĩ chuyên khoa để tránh những hậu quả đáng tiếc. “Thời gian vàng” trong cấp cứu đột quỵ là vô cùng quan trọng, nếu phát hiện và tiến hành chữa trị sớm trong khoảng 4-6 giờ ngay sau khi xảy ra đột quỵ, thì việc “thoát hiểm” khỏi tình trạng tử vong là khá cao, tránh được nguy cơ bị tàn phế sau đột quỵ cũng rất lớn. Cần biết rằng có 2 triệu tế bào thần kinh của người bị đột quỵ sẽ bị mất đi trong mỗi phút.

5. Hậu quả của đột quỵ đáng sợ đến mức nào?

Theo thống kê, đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở mọi quốc gia. Khi xảy ra đột quỵ, dù muốn dù không, bệnh nhân sẽ gặp một trong những hậu quả sau đây:

Thứ nhất: 30% có thể tử vong.

Thứ hai: 30% có thể bị tàn phế.

Thứ ba: 40% có thể bị ảnh hưởng nhẹ.

Tùy thuộc vào mức độ tổn thương của từng vị trí chức năng trên não, bệnh nhân sau đột quỵ có thể gặp phải những di chứng sau:

  • Về vận động: Hạn chế vận động tay chân thậm chí không thể vận động sau đột quỵ.
  • Về ngôn ngữ diễn đạt: Hạn chế khả năng diễn đạt lời nói (Tức nói ú ớ, líu nhíu..), khó hiểu những gì đang nói.
  • Về tâm trạng cảm xúc: Mất khả năng kiểm soát cảm xúc, dễ xúc động như dễ cáu gắt, dễ buồn, đôi khi mặc cảm tự ti về bản thân, trầm cảm…
  • Về thị lực: Làm giảm tầm nhìn, mờ mắt…
  • Về ăn uống: Khó nuốt và dễ sặc.

6. Khi xảy ra đột quỵ cần phải làm gì?

Hậu quả sau đột quỵ phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết của người thân hoặc người xung quanh của người bị đột quỵ. Những kiến thức dưới đây, sẽ góp phần giúp người bị đột quỵ có thể được đưa đến bệnh viện sớm hơn, cơ hội phục hồi cao hơn.

Cách xử trí đúng

Điều quan trọng hàng đầu chính là nhanh chóng gọi xe cấp cứu. Trong thời gian chờ xe cấp cứu đến, gia đình người bệnh có thể sơ cứu tại nhà theo trình tự A-B-C như sau:

  • A= Airway = Đường thở: Kiểm tra đường thở bệnh nhân có thông thoáng không. Nếu bệnh nhân nôn ói: Cần để đầu nghiêng sang một bên và dùng tay lấy tất cả vật có thể khiến bệnh nhân khó thở như đờm dãi, thức ăn hoặc răng giả, để khai thông đường thở ngay lập tức. Tiếp theo cần nới rộng quần áo, trấn an bệnh nhân bằng cách nhắc họ hít sâu, thở chậm.
  • B = Blood = Máu: Xem bệnh nhân có bị chảy máu ở đâu không. Nếu có, cần băng ép vết thương để cầm máu. Tránh tình trạng mất máu quá nhiều gây tử vong trước khi xe cứu thương đến.
  • C = Circulation= Tuần hoàn máu: Sờ các mạch máu lớn của bệnh nhân ở các vị trí như cổ, đùi… xem còn đập hay không. Nếu còn, di chuyển bệnh nhân đến nơi bằng phẳng nghỉ ngơi, chờ cấp cứu đến. Nếu ngưng thở, cần làm hồi sức tim phổi (phải được huấn luyện chuyên nghiệp).

Điều quan trọng, nếu bệnh viện gần nhà có thể xử trí cấp cứu đột quỵ, thì không nên chuyển người bệnh đi xa, trừ khi có chỉ định của bác sĩ chuyên môn. Vì càng di chuyển xa có thể làm tình trạng bệnh nặng hơn và mất đi thời gian vàng trong cấp cứu đột quỵ.

Trong trường hợp vùng sâu vùng xa, xe cấp cứu không đến được cần để bệnh nhân được nằm cố định, tránh rung lắc mạnh làm nặng thêm vùng não đang bị tổn thương. Sau đó nhanh chóng đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế có cấp cứu đột quỵ, để được hỗ trợ điều trị.

Cách xử trí sai – tuyệt đối không làm với bệnh nhân:

Qua khảo sát, có đến 50% người dân vẫn ngộ nhận bệnh nhân đột quỵ là trúng gió. Trong Y học hiện đại, không có khái niệm trúng gió. Chính vì thế:

  • Tuyệt đối không cạo gió, vắt chanh cho vào miệng bệnh nhân à Điều này có thể gây tắc nghẽn đường thở.
  • Tuyệt đối không cho bệnh nhân ăn uống à Tránh tình trạng hít sặc, vô tình gây ra chứng viêm phổi hít.
  • Không cúng bái, cắt lễ, chích máu…

à Chính thời gian và những cấp cứu sai lầm, không những không giúp được người bệnh mà càng làm trì trệ thời gian cấp cứu dẫn đến bệnh nhân đến trễ “giờ vàng”, nguy hiểm tính mạng của người bệnh.

7. Thời gian vàng trong cấp cứu đột quỵ?

“Cấp cứu đột quỵ càng sớm càng tốt”

Trong đột quỵ, thời gian cấp cứu bệnh nhân kể từ khi bệnh nhân có dấu hiệu đột quỵ là rất quan trọng và càng sớm càng tốt, lúc này “Thời gian là não”. Bởi mỗi lần đột quỵ sẽ làm chết khoảng 1,2 tỷ tế bào não, mỗi giờ trôi qua sẽ mất 120 triệu tế bào não, mỗi phút trôi qua sẽ mất 2 triệu tế bào não.

Mức độ di chứng sau đột quỵ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời điểm phát hiện bệnh, thời gian được chẩn đoán và quá trình điều trị cho bệnh nhân. Thời gian vàng trong cấp cứu đột quỵ như sau:

– Nhồi máu não

Trong vòng 4,5 giờ: Nếu bệnh nhân đến từ 0- 4,5 giờ, bệnh nhân sẽ được tiêm thuốc tan cục máu đông đường tĩnh mạch đối với nhồi máu não mạch máu nhỏ (phương pháp điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết). Tuy nhiên hướng điều trị tiêu sợi huyết có nguy cơ xuất huyết não sau khi dùng thuốc, nguy cơ này lên đến 6% tùy cơ địa bệnh nhân và các bệnh lý đi kèm, nguy cơ xuất huyết.
Trong vòng 6 giờ: Nếu bệnh nhân đến trước 6 giờ, có tắc mạch máu lớn bệnh nhân sẽ được chuyển đến phòng can thiệp nội mạch DSA, lấy cục huyết khối. Phương pháp này có hiệu quả tái thông đến trên 80%. Chính hiệu quả khả quan này, Hội Đột quỵ Hoa kỳ đã đưa phương pháp can thiệp nội mạch vào phác đồ điều trị đột quỵ não cấp trong 6 giờ cho tắc động mạch lớn, phác đồ này được triển khai trên toàn thế giới.

Nếu bệnh nhân đến trễ sau 6 giờ: Có thể ứng dụng phần mền trí tuệ nhân tạo Rapid để đánh giá can thiệp muộn “cứu vãng” cho những trường hợp vùng lõi nhồi máu não nhỏ và vùng thiếu máu não rộng (vùng tranh tối, tranh sáng). Tuy nhiên, lý tưởng nhất là bệnh nhân đột quỵ nên được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt.

– Xuất huyết não: Càng sớm càng tốt. Nếu bệnh nhân bị xuất huyết não mà không có điều kiện cấp cứu kịp thời thì bệnh nhân sẽ nhanh chóng diễn tiến tử vong. Tùy trường hợp, bệnh nhân nặng sẽ được can thiệp gây tắc mạch máu đang chảy (đặt Coils, bơm keo.. bằng can thiệp nội mạch) hoặc phẫu thuật lấy máu bầm (máu tụ) nếu lượng máu chảy nhiều, những trường hợp nhẹ sẽ được điều trị bằng bằng thuốc.

8. Các phương pháp điều trị

Tùy theo mức độ và thể loại đột quỵ mà bệnh nhân sẽ được điều trị bằng một trong các phương pháp sau hoặc phối hợp nhiều phương pháp:

Điều trị bằng thuốc: Kiểm soát các yếu tố nguy cơ.

Điều trị cấp cứu bằng thuốc tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch trong thời gian vàng.

Can thiệp nội mạch lấy huyết khối và cầm máu.

Phẫu thuật mở sọ giải áp.

Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng.

Điều trị dự phòng tái phát các yếu tố nguy cơ.

9. Các biện pháp phòng ngừa đột quỵ

Cách phòng ngừa đột quỵ tốt nhất là kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ gây ra đột quỵ!

  • Thường xuyên tập thể dục

Đây là biện pháp đơn giản nhưng mang đến rất nhiều lợi ích, không chỉ giúp ngăn ngừa đột quỵ mà còn làm giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch khác cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống.

Duy trì:

  • Mỗi lần tập ít nhất 30 phút.
  • 5 ngày mỗi tuần.
  • Tập theo khả năng của bản thân hạn chế gắng sức.
  • Lựa chọn môn tập phù hợp. Ví dụ đối với người già nên chọn môn tập luyện nhẹ nhàng như tập dưỡng sinh. Đối với người trung niên và người trẻ lựa chọn các môn như bơi lội, đạp xe, đi bộ, yoga hoặc bất kỳ một môn thể thao yêu thích để giải tỏa căng thẳng sau làm việc, giúp nâng cao sức khỏe.
  • Chế độ ăn lành mạnh:

Chế độ ăn cân đối giúp chúng ta có đủ năng lượng sinh hoạt và phòng ngừa bệnh tật tốt hơn. Ăn đầy đủ các nhóm chất sau:

  • Ăn đủ chất đường bột gồm cơm, miếng, bún… giúp duy trì hoạt động các dây thần kinh trung ương và các hoạt động khác của cơ thể.
  • Chất đạm gồm thịt cá, trứng, sữa… ít nhất 2 lần/tuần giúp giảm nguy cơ mắc bệnh lý mạch máu.
  • Chất béo: Khuyến khích sử dụng chất béo thực vật, hạn chế chất béo động vật. Hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn, thức ăn nhanh, đồ ăn chiên xào nhiều dầu mỡ.
  • Vitamin và khoáng chất gồm rau, trái cây và ngũ cốc: Có nhiều chất xơ và khoáng chất, giúp kiểm soát được cân nặng, hạ cholesterol máu.
  • Giảm muối: Không cho thêm muối vào món ăn đã được chế biến, việc ăn muối quá mặn sẽ làm tăng huyết áp, mà tăng huyết áp là nguy cơ hàng đầu dẫn đến đột quỵ.
  • Bỏ thuốc lá và hạn chế bia rượu:

Hút thuốc lá từ lâu đã được biết đến như là một nguy cơ quan trọng gây ung thư phổi và các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch máu não. Không những người hút trực tiếp mà người thụ động cũng bị ảnh hưởng.

Nếu bỏ thuốc lá sẽ mang lại lợi ích:

  • Sau 2 năm sẽ giảm 50% nguy cơ đột quỵ.
  • Sau 5 năm, nguy cơ mắc bệnh đột quỵ sẽ gần như người không hút thuốc.
  • Đối với người bị xơ vữa mạch cảnh hay xơ vữa mạch vành việc ngừng hút thuốc cùng với điều trị sẽ giúp các mảng xơ vữa thoái triển.

Hạn chế bia rượu giúp trái tim khỏe mạnh hơn, làm giảm nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch và đột quỵ.

  • Kiểm soát huyết áp:

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến đột quỵ, vì vậy việc kiểm soát tốt huyết áp giúp giảm thiểu được nguy cơ đột quỵ và các bệnh lý mạch máu.

Mức huyết áp mục tiêu:

  • Ở người bình thường: Dưới 140/90 mmHg.
  • Ở bệnh nhân mắc tiểu đường hoặc bệnh thận mạn: Dưới 130/80 mmHg.
  • Ăn chế độ ăn lành mạnh, đặc biệt hạn chế muối.
  • Tập luyện thể lực và duy trì cân nặng hợp lý.
  • Có lối sống vui vẻ, thoải mái, hạn chế rượu bia, thuốc lá và những stress trong cuộc sống.
  • Kiểm soát các bệnh lý tim mạch:

Bệnh tim mạch là nguy cơ thứ 2 dẫn đến đột quỵ, việc kiểm soát tốt các bệnh lý tim mạch bằng thuốc và theo hướng dẫn điều trị của bác sĩ, góp phần giảm nguy cơ đột quỵ và có một trái tim khỏe mạnh.

  • Kiểm soát mỡ máu

Rối loạn mỡ máu là yếu tố nền tảng trong cơ chế gây nên xơ vữa động mạch. Mỡ máu cao tích  tụ trong thành mạch làm cho thành mạch trở nên xơ vữa gây hẹp lòng mạch khiến thiếu máu nuôi các cơ quan trong cơ thể, trong đó có não bộ.

Với những bệnh nhân đã bị đột quỵ thì LDL-c (Cholesterol xấu) cần hạ thấp dưới 70 mg/dl và HDL-c (Cholesterol tốt) trên 50 mg/dl.

Việc kiểm soát mỡ máu quan trọng nhất vẫn là chế độ ăn giảm chất béo và tăng cường hoạt động thể thao.

Dùng thuốc để kiểm soát nếu cần thiết.

  • Kiểm soát đường huyết

Tiểu đường làm tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu não từ 2 – 4 lần. Vì vậy, việc kiểm soát đường huyết phải thật chặt chẽ sẽ tránh được những biến chứng nặng nề lên mắt, thận, đột quỵ…

Người có sức khỏe bình thường, cần duy trì HbA1C dưới 6.5%, đường huyết lúc đói dưới 126 mg/dl là hợp lý.

Trường hợp đối với người lớn tuổi có các bệnh lý nền như bệnh thận mạn, suy tim, nhồi máu cơ tim, nhồi máu não cũ thì mức HbA1C khuyến khích dưới 7,5 – 8% và đường huyết đói dưới 180 mg/dl.

Với người bệnh tiểu đường nên có máy thử đường huyết tại nhà để kiểm tra đường huyết khi cần thiết. Tăng hoạt động thể lực để giúp cơ thể nhạy cảm với Insulin, dùng thuốc đúng liều lượng của bác sĩ để kiểm soát tốt đường huyết. 

Hạn chế các loại bánh ngọt, kẹo các thức ăn có lượng đường cao.

 

  • Kiểm soát và duy trì cân nặng

Với một người thừa cân: nguy cơ đột quỵ tăng 40% mỗi khi BMI tăng thêm 5kg/m2 trên mức 25 kg/m2

Chỉ số BMI = Cân nặng : (chiều cao)2

Cân nặng (kg); Chiều cao (mét); BMI bình thường: 18 – 24

Vòng eo khuyến khích: Nam dưới 90cm, nữ dưới 80cm. Nếu cao hơn số khuyến khích, nguy cơ đột quỵ tăng đáng kể.

Chế độ ăn hợp lý bằng việc ăn uống đúng giờ kết hợp khẩu phần ăn cân đối, hạn chế thức ăn nhanh, thức ăn nhiều dầu mỡ.

Ngủ đủ giấc đúng giờ và thường xuyên tập thể dục đều đặn.

10. Cần chăm sóc bệnh nhân sau đột quỵ như thế nào?

Như đã đề cập ở phần hậu quả và di chứng mắc phải sau đột quỵ là rất nặng nề. Chính vì vậy việc chăm sóc người sau đột quỵ cần phải được chăm sóc đặc biệt kết hợp vận động đúng cách sẽ giúp người bệnh có thể phục hồi nhanh chóng và phòng ngừa tái phát đột quỵ (Người từng bị đột quỵ sẽ có nguy cơ tái phát đến 40% trong 5 năm đầu). Việc chăm sóc và luyện tập cho người bị đột quỵ rất cần sự quan tâm và kiên nhẫn của cả người bệnh và gia đình. Theo nguyên tắc vận động sớm, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, tâm lý trị liệu…

  • Chế độ dinh dưỡng

Bệnh nhân sau đột quỵ vẫn nên có chế độ ăn uống như thông thường. Các loại thức ăn cần theo tiêu chí sau:

  • Ăn đủ tinh bột, đủ rau, đủ hoa quả
  • Ăn vừa phải thịt, ăn cá ít nhất 2 lần 1 tuần
  • Ăn có mức độ dầu mỡ, chất béo
  • Ăn ít đường
  • Đặc biệt, ăn hạn chế muối để tránh nguy cơ tăng huyết áp và mỡ máu.

Ngoài ra, thức ăn dành cho người sau đột quỵ cần phải mềm, dễ nuốt, dễ tiêu hóa, thức ăn cần được cắt xé nhỏ hoặc xay nhuyễn tránh tình trạng ngạt sặc.

Khi ăn cần nâng người bệnh nhân hoặc cho bệnh nhân ngồi là tốt nhất. Cần quan tâm đến thái độ sau ăn của người bệnh để điều chỉnh lượng thức ăn cho những lần tiếp theo, tránh ăn quá nhiều hoặc quá ít.

 

  • Chế độ sinh hoạt

Sinh hoạt điều độ và thư giãn đúng cách sẽ giúp bệnh nhân có tinh thần lạc quan, điều này góp phần quan trọng trong điều trị tâm lý cho bệnh nhân. Giúp bệnh nhân có lối sống lành mạnh như:

  • Không hút thuốc lá và cần tránh hút thuốc lá thụ động (hít khói thuốc từ người xung quanh).
  • Ngủ nghỉ điều độ: Ngủ đủ giấc, tránh thức khuya trong thời gian dài, tránh làm việc nặng quá mức.
  • Nên cho người bệnh vận động bằng một môn thể thao nhẹ nhàng như đi bộ, dưỡng sinh…
  • Giữ tinh thần thoải mái, lạc quan, tránh stress cho bệnh nhân.
  • Cần duy trì kiểm tra sức khỏe định kỳ và tuân thủ của bác sĩ về điều trị.
  • Chế độ tập luyện

Trường hợp bệnh nhân chưa thể tự vận động: Cần nên thường xuyên thay đổi tư thế nằm cho bệnh nhân, tránh tình trạng lở loét gây đau đớn cho bệnh nhân.

Trường hợp bệnh nhân có thể vận động nhưng còn yếu: Cần động viên tinh thần cho người bệnh, cố gắng để người bệnh tự làm và chỉ hỗ trợ các hoạt động chưa thể làm được.

Trong trường hợp cần thiết, cần phải có sự hướng dẫn của bác sĩ hoặc kỹ thuật vật lý trị liệu, không nên tự ý tập vật lý trị liệu tại nhà. Điều này có thể sẽ không lượng được sức khi tập sẽ ảnh hưởng nặng nề hơn.

Điều quan trọng nhất là quá trình tập luyện cần phải có sự kiên nhẫn và kiên trì của cả người bệnh và người hướng dẫn. 

TS.BS Trần Chí Cường – Giám đốc Chuyên môn

Bệnh viện Đa Khoa Quốc Tế S.I.S Cần Thơ

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Nắng nóng - coi chừng đột quỵ

Mỗi năm, Việt Nam trung bình có hơn 200.000 người bị đột quỵ (tai biến mạch máu não). Một nửa trong số bệnh nhân đó đã tử vong. Những người sống sót sau đột quỵ …

Tai biến mạch máu não - Những điều cần biết

Tai biến mạch máu não là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Bệnh thường để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, biến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và …

Trò chuyện cùng TS. BS Nguyễn Huy Thắng: Vì những điều tốt nhất cho các bệnh nhân đột quỵ

“Từ một đơn vị đột quỵ đầu tiên ở Bệnh viện Nhân dân 115, đến nay đã có 60 đơn vị trên cả nước, mục tiêu đến năm 2020, chúng ta sẽ có được 100 …

“Nhân – Quả” trong đột quỵ

Trước nay, chúng ta nói đến quan hệ “Nhân - Quả” như là một qui luật trong cuộc sống. Đột quỵ, nhìn ở góc độ này, vẫn không sai chút nào. Một lần, lúc đang ngồi …

Cơn thoáng thiếu máu não – Dấu hiệu báo trước của cơn đột quỵ

Do các triệu chứng của cơn thoáng thiếu máu não xuất hiện đột ngột nhưng hồi phục nhanh chóng, nên một số người thường bỏ qua mà không đi khám bệnh. Trong khi đó, với …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi