COVID-19 và các điều cần phải quan tâm!

COVID-19 là bệnh nhiễm coronavirus chủng mới được Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đặt tên là SARS-CoV2. Dịch bệnh COVID-19 bắt đầu xuất hiện và lây lan tại thành Phố Vũ Hán, Trung quốc từ cuối tháng 12/2019, sau đó lan khắp Trung Quốc rồi đạt đỉnh vào ngày 5/2/2020. Tuy hiện nay dịch COVID-19 đang giảm dần tại Trung Quốc với số ca nhiễm mới ngày càng bớt dần, nhưng tình hình trên các phần còn lại của thế giới lại rất nóng và đáng báo động. Chúng ta đã biết gì về virus tai quái này?

 

Nếu tính đến 28/3, đã có trên 600.000 trường hợp nhiễm COVID-19 trên nhiều quốc gia khác. Mỹ với trên 100.000 và Ý gần 90.000 ca, đã trở thành quốc gia đứng hàng đầu và hàng thứ nhì về số người mắc COVID-19, thay thế cho Trung Quốc hiện đang xếp thứ 3 với gần 82.000 ca nhiễm. Tình hình sẽ diễn tiến ngày càng phức tạp hơn với nhiều quốc gia Châu Âu đang trở thành tâm dịch như Tây Ban Nha, Đức, Pháp. Tại Trung Đông thì Iran là quốc gia đang đối phó với tình hình dịch COVID-19 lan rộng với số ca nhiễm bệnh trên hàng chục nghìn người. Tại Châu Á, sau Hàn Quốc với gần 9.500, thì Nhật là quốc gia cũng đang đối phó COVID-19 với gần 1.500 người nhiễm. Riêng tại các quốc gia Đông Nam Á thì sau một thời gian yên ắng tưởng chừng dịch COVID-19 bỏ quên không tìm đến thì hiện nay có vẻ như đang bắt đầu bùng phát dịch với Malaysia trên 2.000, Thái Lan gần 1.200, Indonesia trên 1.000, Singapore trên 700, Philippine vừa cán mức 800 và Việt Nam đã ghi nhận 169 trường hợp nhiễm COVID-19. Nói chung gần như hơn ba phần tư các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới là đã có COVID-19 viếng thăm.

Hình1: Quá trình nhân bản của SARS-CoV 2 trong đó rất quan trọng là quá trình các gai của virus tóm bắt được các thụ thể trên bề mặt tế bào niêm mạc hô hấp là các ACE2. Virus đã tích nghi nên có khả năng tóm bắt rất dễ dàng các ACE2.

 

Tại sao COVID-19 lây lan nhanh như vậy, có phải do độc lực của virus quá mạnh không?

Thật sự không phải như vậy mà vì hai lý do sau đây:

1/ SARS-CoV 2 tuy là virus ngoại lai không phải có nguồn gốc từ người mà là từ động vật hoang dã (dơi), nhưng cấu trúc bộ gen của nó lại được tiến hoá để rất dễ bám và xâm nhập vào tế bào niêm mạc hô hấp của người, đó là gen giúp vi khuẩn hình thành nên các gai trên bề mặt mà các nhà chuyên môn gọi là Spike. Các gai này có cấu trúc phân tử giúp nó bám rất dễ và rất chặt lên trên một loại thụ thể hiện diện nhiều trên bề mặt của tế bào niêm mạc hô hấp (họng và hô hấp dưới), đó là ACE2 (hình 1). Không chỉ vậy sau khi bám vào ACE2, virus còn có một khả năng đặc biệt nữa là rất dễ hòa nhập phần vỏ đã bám dính của virus vào màng của tế bào niêm mạc. Vì thế, nên chúng xâm nhập vào bên trong tế bào rất dễ dàng để phóng thích chất liệu di truyền của nó là RNA vào bên trong tế bào rồi nhân bản thành các virus mới để được phóng thích ra ngoài xâm nhập vào các tế bào mới.

2/ SARS-CoV 2 có một khiếm khuyết trên bộ gen của nó. Chính sự khiếm khuyết này đã làm cho virus sau khi xâm nhập vào tế bào niêm mạc hô hấp lại không nhân bản nhanh như các virus SAR-CoV 1 gây SARS hay MERS-CoV gây viêm phổi cấp tínhTrung Đông hay H5N1, mà chúng nhân bản khá chậm. Chính điều này làm cho COVID-19 có thời gian ủ bệnh tương đối lâu, có khi lên đến 14 ngày. Không chỉ vậy, do nhân bản chậm nên có khá nhiều người nhiễm virus mà không triệu chứng (51%), đồng thời cũng có nhiều người có triệu chứng rất nhẹ, như vậy là có rất nhiều trường hợp người nhiễm bệnh ở trong cộng đồng, làm cho dịch bệnh âm thầm lan ra ngoài cộng đồng đến một lúc nào đó sẽ bùng phát dịch.

Biểu đồ 1: Tỷ lệ tử vong của COVID-19 ở các quốc gia có số lượng người mắc COVID-19 từ 1000 ca trở lên (Dữ liệu từ https://www.worldometers.info/coronavirus/ lúc 11:30AM ngày 26/3/2020).

 

COVID-19 là dịch bệnh có nguy hiểm không?

Nếu nhìn vào con số 597.262 người nhiễm COVID-19 trên toàn thế giới cho đến 28/3 và với số tử vong là 27.365 thì tỷ lệ tử vong là 4.6%, một tỷ lệ không phải thấp. Tuy nhiên hiện nay tỷ lệ tử vong này cũng thay đổi tùy quốc gia, giai đoạn dịch của quốc gia đó. Từ các con số được ghi nhận đến hôm nay trên các quốc gia có số lượng người nhiễm COVID-19 từ 1.000 trở lên (biểu đồ 1) thì chúng ta thấy tỷ lệ tử vong cao nhất là Italy (10.6%, hơn SARS), Indonesia (8.3%), Tây Ban Nha (7.8%), Iran (7.4%), Hà Lan (6.3%), Pháp (6.1%), Anh (5.2%), Trung Quốc (4%)…

Lý do có sự khác biệt này là vì tỷ lệ tử vong bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố:

Yếu tố thứ 1 là số lượng người phát hiện bị nhiễm bệnh có đầy đủ không, vì nếu chỉ phát hiện người nhiễm trên các ca bệnh có triệu chứng thì bỏ sót rất nhiều người bị nhiễm bệnh không triệu chứng, nên tỷ lệ tử vong ghi nhận được chỉ là tỷ lệ tử vong trên các người có triệu chứng chứ không phản ảnh được tỷ lệ tử vong trên tất cả người nhiễm bệnh.

Yếu tố thứ 2 là tuổi của bệnh nhân. Nếu xét về tuổi thì đa số các trường hợp tử vong nằm ở những người lớn tuổi, nguy cơ nhất là từ 70 tuổi trở lên, đặc biệt là ở những người có bệnh nền như tim mạch, hô hấp và biến dưỡng như tiểu đường. Ở các người trẻ thì tỷ lệ tử vong rất thấp.

Tuy nhiên có một yếu tố thứ ba rất là nguy hiểm dẫn đến tỷ lệ tử vong tăng cao, đó là sự quá tải của hệ thống y tế đặc biệt là sự quá tải trong điều trị và chăm sóc những người bị bệnh nặng. Diễn tiến của bệnh lý COVID-19 là sẽ dẫn đến viêm phổi cấp. Đa số các trường hợp là viêm phổi mô kẽ và có thể tự khỏi hay chỉ cần được điều trị hỗ trợ như tăng cường sức khỏe, giảm sốt, giảm đau và thở oxy… Nhưng trong các trường hợp nặng thì phế nang (đơn vị chức năng của phổi giúp cho con người lấy được oxy không khí vào máu và thải Carbonic ra bên ngoài) hầu như bị nghẹt và xơ cứng không dãn nở được làm cho bệnh nhân bị ngạt thở dù cố gắng tự thở hay cho thở oxy. Với những trường hợp như vậy thì bệnh nhân phải được thở bằng các máy thở và thời gian thở máy để hy vọng phế nang được phục hồi là lên đến 21 ngày. Chính vì vậy chúng ta cứ tưởng tượng là nếu toàn thành phố chỉ có 100 máy thở thì chỉ đủ để điều trị cho 100 trường hợp nặng, và trong 21 ngày nếu con số trường hợp nặng này vượt quá 100 là chúng ta sẽ bị quá tải, sẽ có rất nhiều trường hợp bệnh nhân nặng chỉ được cho thở oxy và … chờ chết thôi. Vấn đề quá tải này sẽ rất dễ xãy ra nếu chúng ta để dịch bệnh lây lan rộng ra ngoài cộng đồng, vì càng lây lan ra ngoài cộng đồng thì nguy cơ sẽ càng có nhiều trường hợp nặng phải nhập viện và nguy cơ có nhiều người bệnh sẽ phải cần đến giải pháp điều trị bằng máy thở…

Dịch bệnh COVID-19 lây lan như thế ào?

COVID-19 lây lan qua hai con đường, trước hết là con đường tiếp xúc thân cận, đó là lây qua các giọt bắn bị người nhiễm bệnh ho bắn ra bên ngoài rồi các giọt này văng vào mũi, miệng, mắt của những người thân cận trong vòng đường kính 2m chung quanh người bệnh. Ngoài ra tiếp xúc gần cũng làm cho virus lây qua các người thân cận thông qua bắt tay, ôm hôn, hay dùng chung phòng, dùng chung nhà vệ sinh, vòi rửa tay, tay nắm cửa… vì người bị nhiễm virus có thể ho làm bắn các giọt bắn lên các vật liệu này hay các giọt bắn này dính vào tay người bệnh rồi bị dính vào các vật trên. Trong đường lây này thì người có nguy cơ nhiễm bệnh là những người đến từ các vùng dịch, hay du lịch qua các vùng dịch, thậm chí chỉ cần đi qua các vùng dịch và một khi được xác nhận là bị nhiễm bệnh thì các đối tượng này sẽ được gọi là F0. Như vậy những người có nguy cơ bị lây bệnh từ F0 chính là những người tiếp xúc thân cận trực tiếp với F0, được xem là F1, có thể là những người đi chung máy bay, ngồi chung xe tư nhân để đưa đón tại sân bay hay ga tàu, sống cùng phòng, cùng nhà… và đây là các đối tượng được xác định là có nguy cơ lây bệnh nhất. Tuy nhiên do đặc điểm virus quá dễ lây lan nên các đối tượng tiếp xúc thân cận với đối tượng F1 sẽ được xác định là F2 rồi F3, F4, F5 cũng phải được ghi nhận. Nếu chúng ta biết được người bệnh F0 và tìm được toàn bộ các người tiếp xúc thân cận F1, F2, F3… để có các giải pháp cách ly phòng ngừa thích hợp cho từng đối tượng thì chúng ta hoàn toàn có thể không chế được nguồn lây. Tuy nhiên đây là một việc làm rất khó, đặc biệt khi mà có quá nhiều F0 dẫn đến có rất nhiều F1, F2… vượt qua khả năng cách ly thì sẽ nhiều người có thể nhiễm bệnh nhưng không có triệu chứng hay chỉ có triệu chứng nhẹ lọt ra ngoải cộng đồng và lúc này sẽ có sự bùng phát dịch COVID-19 qua con đường lây lan thứ hai là lây lan qua môi trường. Để có thể xảy ra con đường thứ hai này thì phải có hai điều kiện, đó là số người nhiễm virus lạc ra ở ngoài cộng đồng nhiều và nhiệt độ của môi trường phải thích hợp cho virus SARS-CoV 2 tồn tại được lâu. Ở các nước hiện nay như Hàn Quốc, các quốc gia Châu Âu, Mỹ, Iran… là các quốc gia mà hiện đang có bùng phát dịch thì nhiệt độ bên ngoài vẫn còn khá mát mẻ, thậm chí lạnh, đồng thời vấn đề kiểm soát để cách ly người bệnh cũng không được các nhà chức trách quan tâm đúng mực trong thời gian đầu làm cho nhiều người nhiễm bệnh mà không có triệu chứng ở ngoài cộng đồng. Với hai điều kiện như vậy thì các nơi làm môi trường lây bệnh thường là các siêu thị, các trung tâm thương mại, các nhà hàng, các quán bar, các nhà hát rạp chiếu phim..vì có nhiều vật liệu bị nhiễm virus do người mang thải ra qua giọt bắn, qua bàn tay của người bệnh rồi dính vào môi trường như nút bấm thang máy, tay cầu thang cuốn, tay cầu thang, tay nắm cửa, ly chén muổng nĩa ở nhà hàng, khăn trải bàn, khăn ăn, vòi nước nhà vệ sinh… Thêm vào đó tại các nơi nầy luôn luôn có máy điều hòa nên sẽ giữ nhiệt độ mát mẽ vô tình rất thuận lợi cho con virus SARS-CoV 2 tồn tại rồi lây lan. Ngoài ra, ở các nước này các phương tiện chuyên chở công cộng như tàu hỏa, tàu điện, xe bus cũng là môi trường lây lan dịch COVID-19. Sẽ dễ dàng nhận diện có dịch COVID-19 lây lan ra ngoài cộng đồng khi có nhiều ca bệnh mà họ không hề có lịch sử tiếp xúc với ai bị bệnh hay đã từng đi đến các nơi có bùng phát dịch.

Làm thế nào ngăn chặn được sự lây lan của dịch COVID-19?

Cho đến hiện nay, phải nói là rất khó để có thể ngăn chặn được sự lây lan của dịch COVID-19. Tuy nhiên, dựa trên các giải pháp mà các quốc gia đang thực hiện, chúng ta có thể nhận định là các giải pháp được đưa ra là tùy tình hình dịch bệnh đang diễn tiến và tùy điều kiện kinh tế cũng như y tế mà các quốc gia đã có các giải pháp mà họ chọn lựa và được cho là thích hợp nhất, nhưng giải pháp đưa ra cũng có thể sẽ bị thay đổi nếu tình hình chuyển biến không còn phù hợp.

Trước tiên là đối với các quốc gia mà chưa có các trường hợp dịch COVID-19 lan ra cộng đồng như Việt Nam chúng ta hiện nay thì giải pháp mà chúng ta đang đi theo, đó là cố gắng nhận diện cho được tất cả các trường hợp F0 rồi truy tìm cho được tất cả các trường hợp F1, F2, F3… để được cách ly phù hợp, làm sao tránh tuyệt đối các trường hợp F này tiếp xúc ngoài cộng đồng trong thời gian có nguy cơ lây lan là 14 ngày kể từ khi phát hiện được. Với các trường hợp F0 thì sẽ được điều trị thích hợp và cách ly tại các trung tâm điều trị chuyên dành cho COVID-19. Với các trường hợp F1 thì sẽ được cách ly tập trung, các trường hợp F2 hay F3 thì sẽ được khuyên cách ly tại nhà. Trong thời gian cách ly thì tất cả các đối tượng trên phải mang khẩu trang để tránh lây lan ra bên ngoài. Các nơi sẽ tập trung để phát hiện các trường hợp F0 là các cửa khẩu hàng không hay trên bộ. Ngoài ra các giải pháp tránh tụ tập đông người, kiểm tra y tế tại các của khẩu, đóng của trường học, cũng như đeo khẩu tra khi ra ngoài cũng được khuyến cáo và áp dụng với hy vọng sẽ ngăn chận được COVID-19 lan ra cộng đồng.

Đối với các quốc gia mà đã có dịch lây lan ngoài cộng đồng thì tùy sự nhận định của nhà chức trách mà người ta đưa ra các giải pháp khác nhau. Với Hàn Quốc thì người ta cố gắng thực hiện xét nghiệm phát hiện các trường hợp nhiễm COVID-19 ngoài cộng đồng càng nhiều càng tốt để yêu cầu tự cách ly, đồng thời phát hiện ổ dịch trong cộng đồng để khoanh vùng cách ly. Hình như giải pháp này có vẻ đang có tác dụng với số ca nhiễm mới tại Hàn Quốc ngày càng giảm dần sau thời gian tăng vọt lên đến đạt đỉnh. Với Anh Quốc hay nhiều nước Châu Âu thì chiến lược của nhà chức trách là cố làm sao để làm chậm thời gian dịch COVID-19 đạt đỉnh, vì nếu để tự nhiên không kiểm soát thì đỉnh dịch sẽ lên rất nhanh vượt quá khả năng của chăm sóc y tế và sẽ làm cho vỡ trận chống dịch (trường hợp Italy). Nếu làm chậm được thời gian để dịch lan rộng thì đỉnh dịch sẽ không bao giờ vượt quá khả năng chăm sóc của hệ thống y tế và như vậy sẽ không có rối loạn, không có vỡ trận. Giải pháp để làm được điều này là các trường hợp F0 sẽ được khuyến cáo tự cách ly ở nhà và được nhân viên y tế điện thăm hỏi nhiều lần trong ngày trong suốt thời gian cách ly để được đưa vào bệnh viện kịp thời nếu có diễn tiến nặng. Trong thời gian đầu, nhiều quốc gia chưa đưa ra các giải pháp ngăn chặn khác, tuy nhiên do tình hình dịch COVID-19 ngày càng trầm trọng nên cho đến nay họ đã phải đưa đến các giải pháp cứng rắn hơn như là đóng cửa các nhà hàng, trường học, các sự kiện tụ tập đông người, các cửa khẩu hàng không và trên bộ…Không chỉ vậy, hiện nay nhiều quốc gia còn đưa ra thêm giải pháp nữa, đó là mọi người cố tránh tiếp xúc nhau trong vòng 2m tức là cố gắng ở nhà, tránh tiếp xúc bên ngoài. Giải pháp này được gọi là Social distancing. Một tính toán (hình 2) cho thấy với giải pháp này, nếu không áp dụng thì với chỉ số lây lan hiện nay của COVID-19 là 2.5 thì chỉ sau 1 tháng, một F0 có thể lây bệnh cho 406 người, nhưng nếu áp dụng được cho 50% dân số thì một F0 chỉ lây bệnh được cho 15 người, còn nếu áp dụng được cho 75% dân số thì chỉ có 2-3 người bị lây.

Có thuốc nào điều trị được COVID-19 hay không?

Thoạt đầu nhiều người nghĩ là COVID-19 là một bệnh nhiễm virus và không có thuốc điều trị đặc hiệu. Giải pháp điều trị chỉ chủ yếu là điều trị hỗ trợ như là giảm đau và giảm sốt, tăng cường dinh dưỡng, đề kháng trong các trường hợp nhẹ; trong trường hợp khó thở thì hỗ trợ thêm bằng thở oxy; các trường hợp nặng thì dùng thở máy. Tuy nhiên hiện nay mục tiêu tìm được thuốc điều trị đặc hiệu không chỉ là tiêu diệt được virus mà còn làm sao cho bệnh khỏi nhanh hơn, ít trường hợp diễn tiến nặng hơn, ít tử vong hơn trên các đối trượng nguy cơ cao.

Chính nhắm đến các mục tiêu như vậy nên có một số ứng viên được xem xét tùy theo các cơ chế tác dụng của các thuốc này.

1/ Trước hết đó là chloroquine sulfate (SCQ) hay hydroxychloroquine (HCQ) với cơ chế là làm gia tăng nồng độ ion kẽm trong tế bào nhờ CQ là một thuốc có khả năng mang kẽm vào tế bào dễ dàng nhờ đặc điểm Zn Ionophore giúp cho Ion kẽm được đưa qua màng tế bào. Sự gia tăng nồng độ kẽm trong tế bào gây nên hậu quả là ngăn chặn enzyme giúp nhân bản chất liệu di truyền của virus (đó là enzyme RdRP, hình 1) và làm cho virus không nhân bản được. Ngoài ra CQ còn có một cơ chế nữa là bám lên chất liệu di truyền của virus làm cho virus mất hết khả năng nhân bản cũng như khả năng chỉ huy tổng hợp các protein cần thiết cho nó. Tuy nhiên CQ là một thuốc có nhiều độc tính, liều tác dụng lại rất gần liều độc, nên cần phải có được sự chỉ định và theo dõi của bác sĩ điều trị chứ người bệnh không nên tự ý sử dụng.

2/ Remdesivir là một thuốc kháng virus trước đây được các bác sĩ dùng để điều trị Ebola, MERS… với cơ chế tác dụng là một chất đồng dạng nucleotide làm cho virus tưởng nhầm là nucleotide (một nguyên liệu giúp virus nhân bản chất liệu di truyền của nó),do vậy mà virus sẽ không thể nhân bản được. 

3/ Các ACE2 tự do để làm cho virus tưởng nhầm là các thụ thể ACE2 trên tế bào và như vậy là virus sẽ không bám được vào tế bào để xâm nhập và nhân bản.

4/ Các kháng thể kháng ACE2, các kháng thể này sẽ bám lên các ACE2 làm cho virus không có thể bám lên được tế bào và xâm nhập.

5/ Huyết thanh người khỏi bệnh thường có chứa kháng thể trung hòa được virus cũng được xem là ứng viên dành cho điều trị COVID-19.

6/ Kháng sinh azithromycin là một loại macrolide hữu dụng trong điều trị các nhiễm khuẩn hô hấp cũng được xem là ứng viên nhờ khả năng ức chế sự tổng hợp các protein của virus khi các mRNA của virus trượt trên các ribosome của tế bào. Trên là tất cả các giải pháp đang được các nhà khoa học và điều trị thử nghiệm lâm sàng. Hiện chưa có giải pháp nào được FDA chấp thuận vì qui trình cũng rất nhiêu khê tuy rằng tất các các thuốc này đều được FDA chấp thuận trong điều trị các bệnh lý khác. Việc sử dụng hay không một trong các giải pháp này trong điều trị COVID-19 là tùy sự cân nhắc của bác sĩ điều trị.

Giải pháp thuốc chủng ngừa COVID-19 như thế nào?

Đúng là giải pháp chủng ngừa chính là giải pháp căn cơ nhất trong ngăn chận dịch bệnh COVID-19. Một thuận lợi trong việc chế tạo thuốc chủng ngừa COVID-19 đó là các nhà khoa học đã biết được kháng nguyên nào của virus SARS-CoV 2 là kháng nguyên kích thích được miễn dịch bảo vệ. Hiện nay kháng nguyên đó chính là kháng nguyên S trên các gai của virus giúp cho virus bám lên thụ thể ACE2 của tế bào để xâm nhập vào tế bào. Chính nhờ vậy nên chúng ta hy vọng rằng thuốc chủng ngừa sẽ có sớm. Có các giải pháp kỹ thuật sau đây được nhiều hãng sản xuất tiếp cận:

1/ Trước hết là dùng một loại vaccin bản chất không phải là protein mà là mRNA tổng hợp nhân tạo. Các mRNA này có trình tự di truyền giống như mRNA của virus tổng hợp nên protein S, chính vậy khi chích vào cơ thể người thì các mRNA này sẽ vào tế bào người và làm cho tế bào người tổng hợp nên các protein S đưa ra bên ngoài gặp hệ miễn dịch, tạo ra miễn dịch bào vệ. Vaccin này đang được cho thử nghiệm trên các người tình nguyên tại Mỹ.

2/ Vaccin là bản thân virus SARS-CoV 2 được nuôi cấy là yếu đi hay giết chết nhưng vẫn còn nguyên vẹn với kháng nguyên của nó. Thuận lợi của giải pháp này là hiện nay virus SARS-CoV 2 đã được nhiểu phòng thí nghiệm nuôi cấy dễ dàng. Vấn đề là làm sao làm yếu đi hay giết chết nó nhưng bản chất kháng nguyên vẫn còn.

3/ Vaccin protein tái tổ hợp chính là các kháng nguyên S được tổng hợp quan công nghệ di truyền tái tổ hợp. Kháng nguyên này thường vẫn còn giữ tính đặc hiệu nhưng phải được liên kết lên các phân tử mang để làm tăng tính sinh miễn dịch khi chích vào người. Trên chính là 3 khuynh hướng sản xuất vaccine dược các nhà sản xuất theo đuổi. Hy vọng nhân loại sẽ sớm có một hay tất cả các vaccine này và như vậy thì chắn chắn chúng ta sẽ đánh bại được COVID-19.

Đánh bại được COVID-19 nhưng có một kẻ thù khác mạnh hơn và rất khó đánh bại, đó chính là gì?

Đó chính là thói ích kỷ của con người chúng ta mà qua dịch COVID-19 đã bộc lộ rất rõ, không phải chỉ ở các nước nghèo khó mà là ở cả các nước tiên tiến với nền văn minh, văn hóa và dân trí cao. Tất cả đều xuất phát từ một tâm lý bầy đàn mà chúng ta không thể phủ nhận hay bao che. Chính vì cái tâm lý này mà khẩu trang hiện nay trên thế giới đã hoàn toàn bị vét sạch làm cho các người thật sự cần khẩu trang như các nhân viên y tế không có đủ để sử dụng. Giấy vệ sinh, giấy toilet thành một mặt hàng khan hiếm tại các nước Âu Mỹ. Các hàng hóa thiết yếu, tại các nước Âu Mỹ, như thực phẩm, sữa bột, thuốc men bị gom sạch sẽ mà không hề có một sự nhường nhịn nào cho các thành phần dễ tổn thương như trẻ em, như người già cả. Sẽ có nhiều bệnh như suyễn, COPD, tim mạch, nhiễm trùng hô hấp có tỷ lệ tử vong tăng vọt vì người bệnh không tìm được thuốc, không được điều trị thích hợp vì sự quá tải hệ thống y tế do sự hỗn loạn của những người tranh nhau đến bệnh viện đòi điều trị dù không phải COVID-19…Rồi các chửi bới miệt thị ném đá trên mạng xã hội đối với những cá nhân mà bị cho là nguồn cơn của sự lân lan, kể cả lý lịch cá nhân của họ cũng bị bêu rếu. Chính COVID-19 đã làm cho con người trở thành như vậy. Chúng ta phải nhận thức rõ các xu hướng phi nhân văn này để tỉnh táo mà tránh đi, mà cư xử cho có tình người hơn. Nếu không chúng ta sẽ không phải bị nguy khốn vì COVID-19 mà chính là vì thói ích kỷ của chính chúng ta.

TS. BS Phạm Hùng Vân

Chủ tịch Hội Vi sinh Lâm sàng TPHCM

Theo Tạp chí Sức Khỏe

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Vì sao siêu vi “vương miện” gây bệnh ở phổi?

Tên siêu vi đang gây khủng hoảng là "coronavirus". Coronavirus có nguồn gốc từ tiếng Latin corona, có nghĩa là vương miện, dùng để chỉ sự xuất hiện hình dạng đặc trưng của virus dưới …

Hỏi – Đáp về Covid-19

Hiện nay, Covid-19 là mối đe dọa toàn cầu với hàng trăm ngàn người mắc bệnh, số ca tử vong ngày càng gia tăng. Việt Nam chúng ta cũng đang bước vào giai đoạn cam …

Viêm phổi do virus

Viêm phổi do virus (Sức Khỏe – khoe24h) Viêm phổi do virus (vi rút) xảy ra với tần suất cao 60 – 70% trong các trường hợp viêm phổi, nhất ở lứa tuổi 2-3 tuổi. Ở …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi