Biến chứng bàn chân đái tháo đường – Chúng ta đang ở đâu?

bàn chân đái tháo đường

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý chuyển hóa làm tăng mức glucose máu. Theo Liên đoàn ĐTĐ thế giới, có khoảng 537 người mắc ĐTĐ và khoảng 6.7 triệu ca tử vong có liên quan ĐTĐ trên toàn thế giới vào năm 2021 [1].

 

Người bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao bị loét bàn chân do biến chứng mạch máu nhỏ, biến chứng thần kinh ngoại vi và bàn chân thay đổi về cơ sinh học. Biến chứng thần kinh dẫn đến giảm cảm giác bàn chân, làm bàn chân dễ xuất hiện vết loét do tác dụng cơ học, áp lực và chấn thương. Biến chứng mạch máu nhỏ làm giảm tưới máu chi dưới và góp phần chậm quá trình lành thương.

Ngoài ra, người bệnh ĐTĐ cũng có nguy cơ cao bị đoạn chi dưới, tiêu tốn nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giảm chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, phần lớn các biến chứng bàn chân có thể phát hiện và ngăn ngừa thông qua việc khám bàn chân định kì vào hàng năm cho người bệnh ĐTĐ.

bàn chân đái tháo đường

Cơ chế dẫn đến biến chứng bàn chân ĐTĐ

Việc hiểu rõ sinh bệnh học của loét bàn chân ĐTĐ rất quan trọng trong nỗ lực làm giảm xuất độ loét bàn chân và đoạn chi liên quan ĐTĐ. Con đường dẫn đến loét bàn chân với các yếu tố nguy cơ chủ yếu sau [2]:

  • Bệnh thần kinh ngoại vi cảm giác – vận động đầu xa: Biến chứng này rất hay gặp, chiếm trên 50% ở người ĐTĐ típ 2. Rối loạn chức năng thần kinh ở sợi trục nhỏ thường dẫn đến mất cảm giác đau và cảm giác nhiệt, nên người bệnh dễ mất cảm giác đau được xem như là cảm giác bảo vệ. Rối loạn chức năng thần kinh ở sợi trục lớn có thể gây mất vững, làm tăng nguy cơ té ngã. Ngoài ra, các vi chấn thương lặp lại không nhận biết có thể làm tăng nguy cơ biến chứng bàn chân Charcot (bệnh lý thần kinh – khớp của bàn chân). Mặt khác, tổn thương sợi vận động góp phần làm teo các cơ gian đốt, gây mất cân bằng giữa chức năng duỗi và gấp bàn chân.
  • Bệnh thần kinh tự chủ: Rối loạn hệ giao cảm ngoại vi có thể làm giảm tiết mồ hôi (gây khô da), tạo chai sần ở bàn chân. Trong khi đó, bàn chân có cảm giác ấm do phóng thích các chất gây co mạch. Cục chai ở lòng bàn chân biến chứng thần kinh tăng nguy cơ xuất hiện vết loét bàn chân.
  • Bệnh động mạch ngoại vi chi dưới: Đây là một trong các yếu tố nguy cơ chính gây loét bàn chân ĐTĐ. Bệnh động mạch ngoại vi chi dưới thường kết hợp với bệnh thần kinh ngoại vi và có thể gây ra loét bàn chân kiểu thần kinh – thiếu máu.
  • Biến dạng bàn chân: Bất kỳ một biến dạng bàn chân cùng với các yếu tố nguy cơ khác làm tăng nguy cơ loét bàn chân. Ngón chân hình móng vuốt là một biến dạng bàn chân thường gặp với hậu quả làm tăng áp lực lên đầu xương bàn ngón do chấn thương lặp lại. Một số biến dạng đặc trưng khác là bàn chân Charcot và bàn chân vẹo ngoài.
  • Tuổi, phái và thời gian ĐTĐ: Nguy cơ loét bàn chân và đoạn chi tăng từ 2-4 lần theo tuổi và thời gian ĐTĐ. Tại các nước phương Tây, nam giới có nguy cơ loét bàn chân cao gấp 1.6 lần [3].
  • Chủng tộc: Tại Hoa Kỳ, loét bàn chân thường gặp ở người gốc Latin, người bản địa và người gốc Phi, vùng Caribe.
  • Vi chấn thương lặp lại: Một số chấn thương có thể xảy ra ở ở bàn chân có biến chứng thần kinh hoặc mang giày chật hoặc có dị vật trong giày.
  • Tiền sử loét bàn chân hoặc đã từng đoạn chi: Người đã từng bị loét bàn chân có thể bị tái loét với tỉ lệ 30-50% [4].
  • Các biến chứng mạch máu nhỏ khác: Nhiều biến chứng có thể làm tăng nguy cơ loét bàn chân. Giảm thị lực, lọc thận là nhóm nguy cơ rất cao loét bàn chân trong đó lọc thận là yếu tố nguy cơ độc lập.
  • Ghép tạng: Người bệnh ĐTĐ có nguy cơ cao loét bàn chân ngay cả khi sau ghép một số tạng như thận, tụy tạng, hoặc cả hai.

Cơ chế dẫn đến loét bàn chân ĐTĐ

Sự kết hợp từ hai yếu tố nguy cơ trình bày trên có thể dẫn đến loét bàn chân ĐTĐ, chẳng hạn:

  • Bệnh thần kinh ngoại vi, biến dạng bàn chân, tác động chấn thương. Tại các nước phương Tây, việc mang giày dép không phù hợp là nguyên nhân gây chấn thương phổ biến nhất.
  • Bệnh thần kinh ngoại vi kết hợp chấn thương hóa học (chất xoa bóp như dầu nóng). Việc tự điều trị các vết chai sần có thể gây loét ở bàn chân có biến chứng thần kinh.

Trích dẫn hình từ nguồn [3]

bàn chân đái tháo đường Sàng lọc và phân loại bàn chân ĐTĐ

Sàng lọc bàn chân ĐTĐ nên được tiến hành ít nhất mỗi năm một lần nhằm xác định các yếu tố nguy cơ và từ đó có thể giảm nguy cơ đoạn chi.

Thời điểm sàng lọc được khuyến cáo như sau [5]:

  • Tại thời điểm chẩn đoán và sau đó ít nhất một lần trong năm.
  • Khi có bất kì bất thường về bàn chân.
  • Khi người bệnh ĐTĐ nhập viện.

Người phụ trách khám sàng lọc phải là các nhân viên đã được huấn luyện. Khi khám, người bệnh được yêu cầu cởi bỏ giày dép, vớ và phải khám ở cả hai chân, cần lưu ý các điểm sau:

  • Khám thần kinh bằng dụng cụ monofilement 10g.
  • Khám mạch máu bàn chân (tối thiểu phải bắt mạch mu chân).
  • Đánh giá các biến dạng.
  • Các vết chai sần.
  • Các vết loét.
  • Tình trạng viêm hoặc nhiễm trùng bàn chân.
  • Dấu hiệu hoại tử ngón chân.
  • Bàn chân Charcot.

bàn chân đái tháo đường bàn chân đái tháo đường Mục tiêu của việc khám sàng lọc này phân loại nguy cơ bàn chân, từ đó bảo vệ bàn chân không bị tổn thương, ngăn ngừa vết loét bàn chân ĐTĐ và đoạn chi [6]

bàn chân đái tháo đường Phân độ WIfI cho loét chân ĐTĐ

Trong trường hợp người bệnh có vết loét ở bàn chân được xem là nguy cơ rất cao. Khi đó nên đánh giá có nguy cơ đoạn chi thực sự hay không. Ba yếu tố liên quan nguy cơ đoạn chi bao gồm mức độ khuyết mô (độ trầm trọng của vết thương); tình trạng tưới máu chi và mức độ nhiễm trùng [7]

Phân độ WIfI có thể giúp thầy thuốc đưa ra quyết định tổng quát về việc đoạn chi (Hình dưới).

bàn chân đái tháo đường W: Wound (vết loét).

0: Không vết loét và không hoại thư.

1: Vết loét nhỏ và không hoại thư.

2: Vết loét sâu hoại thư không quá ngón chân.

3: Vết loét lan rộng hoặc hoại thư lan rộng.

I: Ischemia (tưới máu).

Dựa vào huyết áp ngón chân / Phân áp oxy qua da.

0: ≥ 60 mmHg.

1: 40 – 59 mmHg.

2: 30 – 39 mmHg.

3: < 30 mmHg.

fI foot Infection (nhiễm trùng).

0: Không nhiễm trùng.

1: Nhẹ (viêm mô tế bào ≤ 2 cm).

2: Vừa (viêm mô tế bào/tụ mủ > 2 cm).

3: Nặng (đáp ứng viêm toàn thân, sốc nhiễm trùng).

bàn chân đái tháo đường Mỗi thành phần trong phân loại WIfI được cho điểm từ 0 đến 3. Dựa trên đồng thuận Delphi, có 64 trường hợp được chia thành 4 mức độ lâm sàng để ước tính nguy cơ đoạn chi. Ví dụ: đánh giá một vết loét bàn chân có điểm W=1; I=3 và fI=2, khi đó được xếp lâm sàng mức 4 là nguy cơ cao đoạn chi.

bàn chân đái tháo đường Các biện pháp phòng ngừa biến chứng bàn chân ĐTĐ

Việc phòng ngừa biến chứng bàn chân ở người ĐTĐ cần tiến hành càng sớm càng tốt [8].

Khám bàn chân thường quy hàng năm

Những người có nguy cơ thấp của bàn chân ĐTĐ nên tái khám hàng năm vì có thể tiến triển thành nguy cơ vừa và nguy cơ cao. Cần nhấn mạnh cho người bệnh biết cách chăm sóc bàn chân và theo dõi glucose huyết chặt chẽ.

Những người có nguy cơ vừa hoặc cao cần khuyến cáo khám thường xuyên hơn nhất là người có biến dạng bàn chân, hoặc đã được chẩn đoán biến chứng thần kinh ngoại vi hay biến chứng mạch máu ngoại vi ở lần khám đầu tiên.

Những người có vết chai hay móng chân, ngón chân bất thường cần được chuyển đến các chuyên gia điều trị bàn chân cùng với kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác nhằm hạn chế tình trạng nhiễm trùng, hoại thư, đoạn chi hay tử vong do vết loét bàn chân ĐTĐ.

Kiểm soát glucose huyết

  • Cần kiểm soát glucose huyết sớm và đủ mạnh ngay từ đầu để ngăn ngừa biến chứng thần kinh ngoại vi. Tối ưu hóa mức glucose huyết và HbA1c có thể ngăn chặn và giảm tiến triển biến chứng thần kinh này.
  • Giáo dục sức khỏe cho người bệnh.
  • Nội dung giáo dục có thể thực hiện bằng tờ rơi và/ hoặc tư vấn trực tiếp, bao gồm:

– Tầm quan trọng của kiểm soát tốt glucose huyết và các yếu tố nguy cơ tim mạch như cách thức ăn uống, vận động, kiểm soát cân nặng cơ thể và ngưng thuốc lá.

– Tầm quan trọng của việc chăm sóc bàn chân mỗi ngày như sau [8]:

+ Tự khám bàn chân mỗi ngày, chú ý vùng giữa các ngón hay bị bỏ sót.

+ Rửa sạch bàn chân mỗi ngày với nước ở nhiệt độ vừa phải, chú ý lau khô các kẽ ngón.

+ Có thể thoa kem giữ ẩm cho da bàn chân nhưng tránh thoa vào kẽ ngón.

+ Cắt móng ngang và dũa.

+ Tuyệt đối không tự ý cắt vết sần, cục chai bằng thoa thuốc hay dụng cụ cắt, nên đến chuyên gia bàn chân thực hiện.

+ Luôn mang vớ và kiểm tra dị vật trước khi mang giày.

+ Tuyệt đối không đi chân đất.

  • Đánh giá nguy cơ loét bàn chân hiện tại.
  • Các dấu hiệu cần đến chuyên gia bàn chân sớm và số liên lạc khi cần.

bàn chân đái tháo đường

Giày dép chuyên biệt cho bàn chân ĐTĐ

Giày dép thông thường có thể gây đổ mồ hôi và nhiễm nấm cho bàn chân ĐTĐ, nhất là tại các nước có khí hậu nhiệt đới. Trường hợp lý tưởng, giày dép chuyên biệt bàn chân ĐTĐ có những đặc điểm sau: mũi giày đủ rộng, miếng lót bên trong mềm mại, kích thước giày có thể thay đổi nhờ dây buộc hoặc miếng dán. Tuy nhiên, người bệnh thường ít tuân thủ mang giày dép chuyên biệt nhất là khi ở nhà. Khi bị loét phần lòng bàn chân, người ĐTĐ cần mang giày dép giảm áp lực chuyên biệt để hỗ trợ lành thương và tránh tái phát.

Các dấu hiệu cần chuyển đến chuyên gia bàn chân hoặc trung tâm có đơn vị điều trị bàn chân ĐTĐ

Cần chuyển ngay nếu người bệnh có một trong các dấu hiệu nguy hiểm tính mạng hoặc đe dọa đoạn chi bao gồm: triệu chứng sốc nhiễm trùng; loét kèm giảm tưới máu; hoại tử hoặc nghi ngờ nhiễm trùng mô mềm lan rộng hay nhiễm trùng xương.

 

Kết luận

Bàn chân ĐTĐ đã và đang là biến chứng phổ biến, phức tạp và gây tốn kém chi phí điều trị nhất cho người bệnh. Tất cả người bệnh ĐTĐ nên được đội ngũ chuyên gia bàn chân khám, sàng lọc và phân tầng nguy cơ hàng năm. Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, các điều kiện vệ sinh còn hạn chế kèm theo thói quen đi chân đất có thể góp phần làm trầm trọng biến chứng bàn chân ĐTĐ. Ngoài ra, thiếu tiếp cận đội ngũ chuyên khoa bàn chân cùng với điều kiện kinh tế, địa lý đã hạn chế người bệnh cơ hội tiếp cận điều trị nhanh chóng và đúng đắn. Theo ước tính, cứ 20 giây có một người ĐTĐ bị đoạn chi nhưng hơn 85% các trường hợp đoạn chi do ĐTĐ có thể ngăn ngừa hoàn toàn. Điều quan trọng là phòng ngừa và điều trị ngay tại giai đoạn cửa sổ – khoảng thời gian khi người bệnh được chẩn đoán bệnh thần kinh ngoại vi cho đến lúc xuất hiện vết loét đầu tiên ở bàn chân. [1].

 

Tài liệu tham khảo

  1. International Diabetes Federation. https://diabetesatlas.org/idfawp/resource-files/2021/07/IDF_Atlas_10th_Edition_2021.pdf)
  2. Boulton AJM, Armstrong DG, Kirsner RS, et al. Diagnosis and Management of Diabetic Foot Complications. Arlington (VA): American Diabetes Association; 2018 Oct. Available from: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK538977/ doi: 10.2337/db20182-1.
  3. Abbott CA, Carrington AL, Ashe H, et al; North-West Diabetes Foot Care Study. The North-West Diabetes Foot Care Study: incidence of, and risk factors for, new diabetic foot ulceration in a community-based patient cohort. Diabet Med 2002;19:377–384.

Armstrong DG, Boulton AJM, Bus SA. Diabetic foot ulcers and their recurrence. N Engl J Med 2017;376:2367–2375)

  1. National Institute for Health and Care Excellence. Diabetic foot problems: prevention and management. October 2019 [internet publication]. Full text (https://www.nice.org.uk/guidance/ng19
  2. Ibrahim A. IDF Clinical Practice Recommendation on the Diabetic Foot: A guide for healthcare professionals. Diabetes Res Clin Pract. 2017;127:285-287. doi:10.1016/j.diabres.2017.04.013
  3. Mills JL Sr, Conte MS, Armstrong DG, et al. The Society for Vascular Surgery Lower Extremity Threatened Limb Classification System: risk stratification based on wound, ischemia, and foot infection (WIfI). J Vasc Surg 2014;59:220–234.e1–e2.
  4. Mishra, S. C., Chhatbar, K. C., Kashikar, A., & Mehndiratta, A. (2017). Diabetic foot. BMJ (Clinical research ed.), 359, j5064. https://doi.org/10.1136/bmj.j5064
  5. Hinchliffe R, Brownrigg J, Apelqvist J, et al. International Working Group on the Diabetic Foot guidance on the diagnosis, prognosis and management of peripheral artery disease in patients with foot ulcers in diabetes. Diabetes Metab Res Rev 2016;32:37-44)

ThS. BS Võ Tấn Khoa

Khoa Nội tiết – Bệnh viện Nhân dân 115

Theo Tạp Chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Tầm quan trọng của việc quản lý tốt bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa dẫn đến tăng đường huyết mạn tính. Đái tháo đường hay đi kèm với các bệnh khác như tăng huyết áp, tăng cholesterol máu, béo phì, …

Đái tháo đường và đột quỵ

Bệnh tiểu đường, còn gọi là bệnh đái tháo đường, là một bệnh mạn tính, không lây nhiễm, rất phổ biến, biểu hiện bởi lượng đường trong máu tăng cao. Bệnh đái tháo đường thường …

Khuyến cáo cho người bệnh Đái tháo đường trong mùa dịch Covid-19

Đối với người bệnh đái tháo đường, việc tuân thủ điều trị là rất cần thiết để kiểm soát đường huyết, phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra. Trong thời điểm …

Đo huyết áp tại nhà - sao cho đúng cách?

Huyết áp là một trong những thông số cơ bản phản ánh tình trạng sức khỏe. Ngày nay, với sự phổ biến các dụng cụ điện tử giúp đo huyết áp tại nhà, mọi người …

Làm sao để có cuộc sống tốt nhất cùng bệnh Đái tháo đường?

Nhân ngày phòng chống Đái tháo đường thế giới, Khoa Nội tiết Bệnh viện Chợ Rẫy phối hợp cùng phòng công tác xã hội, công đoàn bệnh viện và các khoa phòng để tổ chức …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi