Bệnh bạch hầu – Sự trở lại đầy nguy hiểm!

Thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông liên tục thông báo về các trường hợp tử vong đầy thương tâm ở trẻ em bị Bạch hầu tại vùng Tây Nguyên. Căn bệnh truyền nhiễm này tưởng chừng đã “đi vào quên lãng” thì nay đã quay lại do sự lơ là trong việc phòng ngừa bằng vắc xin trong cộng đồng, đặc biệt những vùng dân cư xa xôi. Một lần nữa, những hiểu biết tường tận và thấu đáo về Bạch hầu sẽ giúp cha mẹ phòng tránh được căn bệnh vốn “cũ kỹ” này.

Bệnh Bạch hầu do vi trùng Corynebacterium diphtheriae gây ra. Biểu hiện thông thường nhất của bệnh là nhiễm trùng khu trú ở niêm mạc hô hấp với đặc điểm là sự xuất hiện của màng giả ở vị trí nhiễm trùng, bên cạnh đó, một số dòng vi trùng này có thể tạo ra độc tố mà khi bị nhiễm độc tố, bệnh sẽ diễn tiến nặng nề với biến chứng viêm cơ tim, viêm thận, viêm dây thần kinh. Trong đó, viêm cơ tim là biến chứng gây tử vong rất cao – được ghi nhận ở các ca tử vong tại Tây Nguyên. Vi trùng Bạch hầu có thể sống 2-3 tuần trên bề mặt khô các vật dụng như đồ chơi, bút chì, nắm cửa, trong nước, sữa…

Bệnh chủ yếu lây lan qua tiếp xúc gần giữa người mang vi trùng với người nhạy cảm qua các chất tiết đường hô hấp hoặc qua các dịch chất ở sang thương da có chứa vi trùng. Con đường lây bệnh gián tiếp qua tiếp xúc bề mặt rất ít gặp dù chúng có thể sống lâu ở môi trường bên ngoài. Bệnh xảy ra quanh năm, thường gặp ở các tháng lạnh hơn và từng gây ra các vụ dịch trước khi có chương trình tiêm chủng. Hầu hết trẻ mới sinh ra đều có miễn dich với bệnh nhờ kháng thể truyền từ mẹ sang con, từ 6 tháng tuổi trở đi, trẻ trở nên nhạy cảm và dễ mắc bệnh, trong đó lứa tuổi đến trường thường dễ mắc bệnh nhất!

Bạch hầu vốn dĩ là loài vi trùng “không xâm lấn”, nghĩa là chúng thường chỉ gây tổn thương phần nông của niêm mạc đường hô hấp và tổn thương da, có thể gây viêm nhẹ tại chỗ. Độc lực chính của vi trùng chính là do độc tố mà nó tiết ra. Loại độc tố này có thể ảnh hưởng đến TẤT CẢ các tế bào toàn cơ thể, nhưng tác động chủ yếu lên tim, thận và thần kinh. Ở tại vị trí tổn thương, độc tố vi trùng gây hiện tượng hoại tử kết dính trên bề mặt đường hô hấp, tạo nên màng giả màu trắng xám. Lớp màng này có thể lan rộng xuống các phần đường hô hấp gây tắt nghẽn khí đạo – đây là nguyên nhân gây tử vong do suy hô hấp ở cả trẻ em và người lớn. Độc tố này có thể gây tổn thương không hồi phục ở các cơ quan như tim, thận – tạo nên những di chứng nặng nề nếu trẻ còn sống sót.

Biểu hiện của Bạch hầu rất đa dạng. có những người mang vi trùng nhưng không biểu hiện bệnh (gọi là người lành mang trùng), còn khi biểu hiện bệnh thì những triệu chứng sẽ thay đổi tùy theo vị trí hay độ lan tỏa của màng giả và tùy theo một vài yếu tố đi kèm khác như tuổi tác, tình trạng miễn dịch…

  • Khi vi trùng khu trú ở mũi, các triệu chứng như một trường hợp viêm hô hấp thông thường với sốt nhẹ, chảy mũi. Quan sát kỹ sẽ thấy màng trắng trong hốc mũi. Bệnh thường nhẹ và ít gây biến chứng toàn thân.
  • Khi vi trùng khu trú ở họng – amydale (tình huống thường gặp nhất 40 – 70%): đau họng là dấu hiệu thường gặp, nhưng thường chỉ phát hiện ở trẻ lớn, trẻ nhỏ lại thường biểu hiện ở đường tiêu hóa như nôn ói. Sốt nhẹ từ 37,5 – 38,5ºC. Các dấu hiệu khác có thể gặp: nuốt đau, ho, khan giọng, lạnh run, chảy nước mũi. Khi khám, sẽ thấy màng giả bám trên bề mặt amydale, khi màng giả lan rộng có thể làm thay đổi giọng nói, ăn uống sặc, lú lẫn, hôn mê. Ở những trẻ nặng, hạch cổ sưng to, phù nề vùng cổ gây tình trạng “cổ bạnh”.
  • Khi vi trùng lan tới thanh quản, trẻ sẽ khởi đầu với khàn giọng, thở mệt co kéo, ho ong ỏng, khi nặng lên do bít tắt đường thở, biểu hiện sẽ dữ dội hơn với thở co kéo dữ dội, lo âu, tím tái. Khi đó trẻ cần được cấp cứu khẩn cấp để mở thông khí đạo, thở máy và lấy đi màng giả, nếu không trẻ sẽ ngạt thở và tử vong.
  • Vi trùng có thể xuất hiện ít hơn ở da, hay các vị trí khác toàn thân.

Vì vậy việc phát hiện sớm để chẩn đoán là cực kỳ quan trọng. Cha mẹ nên nghĩ tới bệnh Bạch hầu khi biết trẻ có tiếp xúc với nguồn bệnh, trước đó trẻ không được tiêm chủng rõ ràng và có các dấu hiệu nghi ngờ như sốt nhẹ, ho và đau họng, giọng khàn. Đưa ngay đến các trung tâm y tế để được khám, quan sát vùng hô hấp và có thể nuôi cấy vi trùng Bạch hầu.

Như vậy, Bạch hầu là bệnh nhiễm có tỉ lệ biến chứng khá cao. Biến chứng có thể phân thành 2 nhóm:

  • Biến chứng do màng giả lan rộng: các trường hợp chẩn đoán trễ, tắc nghẽn đường thở làm trẻ thở mệt, tím tái. Nếu không cấp cứu kịp thời, trẻ sẽ tử vong ngay!
  • Biến chứng do độc tố tác động toàn thân: Viêm cơ tim thường gặp (10 – 25%) với tỉ lệ tử vong rất cao (50 – 60%). Đây là biến chứng rất nặng nề cần được chăm sóc và điều trị tích cực. Các biến chứng thần kinh, thận… xảy ra ít hơn và hậu quả cũng khá nặng nề. Các biến chứng có thể xuất hiện muộn, sau hơn một tháng xảy ra bệnh. Vì vậy việc theo dõi sát bệnh nhân là cực kỳ quan trọng.

Điều trị bệnh Bạch hầu cực kỳ khó khăn và tốn kém. Đó là sự phối hợp của nhiều liệu trình: Kháng sinh, kháng độc tố, theo dõi và điều trị các biến chứng, dinh dưỡng đầy đủ. Khi các biến chứng xảy ra, điều trị hồi sức tích cực có thể kéo dài vài tháng, để lại những tổn thất về cơ thể cho trẻ và tổn thất về vật chất và tinh thần cho gia đình trẻ. Việc điều trị sớm (trong 3 ngày đầu) khi phát bệnh sẽ có tỉ lệ tử vong thấp hơn. Vì vậy, khi nghi ngờ trẻ bị Bạch hầu, cha mẹ nên đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế để được thăm khám và theo dõi.

Rõ ràng, Bạch hầu là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và việc điều trị cực kỳ tốn kém. Nhưng Bạch hầu là bệnh HOÀN TOÀN có thể phòng ngừa bằng chương trình tiêm chủng. Vắc xin bạch hầu có mặt trong tất cả các vắc xin kết hợp: 3 trong 1, 4 trong 1, 5 trong 1, 6 trong 1 cho trẻ từ 6 tuần đến 6 tuổi và có mặt trong tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vu. Trẻ từ 2 tháng tuổi đã có thể tiêm phòng với 4 mũi tiêm cơ bản lúc 2-3-4 tháng tuổi và liều nhắc lại lúc 18 tháng tuổi. Ở người lớn và trẻ lớn trên 7 tuổi nên tiêm nhắc lại vắc xin Bạch hầu mỗi 10 năm. Điều cần lưu ý là, sau khi nhiễm Bạch hầu không bao giờ tạo ra miễn dịch kháng độc tố đủ mạnh để bảo vệ cơ thể. Miễn dịch sau khi khỏi bệnh rất yếu đối với bệnh nhân đã mắc bệnh, vì vậy cần được tiêm chủng để tạo miễn dịch chủ động.

Gần đây, những trào lưu anti – vắc xin đã gây ra những hệ lụy tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng, và có nguy cơ làm bùng lên những dịch bệnh vốn đã sắp thành “dĩ vãng” trong đó có Bạch hầu. Việc tuân thủ lịch tiêm chủng đầy đủ, cập nhật kiến thức về căn bệnh nguy hiểm, cùng với sự phối với của cả cộng đồng và các cơ quan y tế dự phòng là điều cần thiết để con trẻ chúng ta tránh được bệnh Bạch hầu này.

BS Lê Việt Cường

Bệnh viện Nhi đồng 2

Theo Tạp chí Sức Khỏe

Phản hồi của bạn

Cùng chuyên mục

Bệnh bạch hầu - nguy hiểm nhưng dễ phòng

Theo số liệu từ Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế): từ đầu năm tới 7/7/2020, tại khu vực Tây Nguyên ghi nhận 63 ca dương tính với bạch hầu. Bao gồm Đắk Lắk, …

Bệnh bạch hầu - Những điều bạn không thể bỏ qua

Bệnh bạch hầu đang diễn tiến tại các tỉnh Tây Nguyên của nước ta (tính đến ngày 7/7) với 63 ca mắc tại 4 tỉnh: Daklak 1 ca, Dak Nông: 25 ca, Gia Lai: 15 …

Bệnh bạch hầu: những điều phụ huynh cần biết

Bệnh bạch hầu: những điều phụ huynh cần biết (Sức Khỏe – khoe24h) Từ khi chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR) triển khai ở Việt Nam (1985) vắc-xin DPT phòng bệnh bạch hầu-uốn ván-ho gà …

Bình Phước: 3 trường hợp tử vong và 26 người nhập viện nghi mắc bệnh bạch hầu

Bình Phước: 3 trường hợp tử vong và 26 người nhập viện nghi mắc bệnh bạch hầu (Sức khỏe- khoe24h) Sở Y tế tỉnh Bình Phước ngày 13/7 cho biết, Sở đang phối hợp cùng Viện …

Hỗ trợ 24/7
Gửi câu hỏi